TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HS - ST
Ngày: 07/8/2024
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà
Ông Đinh Văn Cương
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:
ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M; sinh năm: 1987; tại: Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H; tiền án: năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài; ngày 15/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 05/10/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2023; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1990. Địa chỉ: thôn P, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
Ông Vũ Văn T, sinh năm 1967. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
Ông Tạ Duy H2, sinh năm 1960. Địa chỉ: thôn P, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 12/2023, do có nhu cầu buôn bán pháo vào dịp tết nên trong một lần sử dụng mạng xã hội facebook, Nguyễn Văn M đã tìm và thấy có một bài đăng bán pháo và niêm yết số điện thoại để liên hệ. M liên hệ với số điện thoại này (hiện M không còn nhớ cụ thể số điện thoại này) để hỏi mua pháo thì có một người đàn ông trả lời. Sau khi trao đổi giá cả của một hộp pháo loại 49 viên có giá 700.000đồng thì M đặt mua 09 hộp với giá là 6.300.000đồng và yêu cầu giao pháo cho M ở xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng ba ngày sau thì người bán pháo liên hệ với M để giao pháo. Sau đó, M đến ngã ba Đ thuộc xã Đ, huyện L đứng đợi khoảng hơn một giờ đồng hồ sau thì có một người đàn ông điều khiển xe máy đến, trên xe chở một bao tải màu tím. Sau khi xác nhận đây là người giao pháo thì M dẫn người này vào sâu trong khu đường đất khoảng 06km, đến khu vực vắng thì M dừng lại. Sau đó M kiểm tra xác định đủ 09 hộp pháo loại 49 viên thì M đưa cho người đàn ông này số tiền mặt là 6.300.000đồng, người đàn ông đưa cho M bao tải màu tím có chứa 09 hộp pháo; ngoài ra người này còn cho M thêm 01 bịch pháo bi. Sau khi nhận pháo, M chở số pháo trên về nhà và cất giấu lên gác xếp phía trên phòng ngủ của M. Khoảng 01 ngày sau, M gặp Nguyễn Văn H1 và nói với H1 rằng M có bán pháo nếu mua thì M bán cho một hộp pháo loại 49 viên với giá 1.200.000đồng. Đến chiều cùng ngày, H1 liên hệ với M đặt mua 03 hộp pháo với giá 1.200.000đồng/ hộp và hẹn giao pháo tại cổng phân trường của trường THCS H7 thuộc xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. M lấy ra 03 hộp pháo bỏ trong một bao tải và mang đến điểm hẹn giao cho H1, H1 trả cho M 3.600.000đồng tiền mặt.
Đến khoảng 11 giờ ngày 04/01/2024, H1 tiếp tục liên hệ với M để đặt mua 02 hộp pháo 49 viên với giá 1.200.000đồng/ hộp và yêu cầu M giao luôn cho H1 tại vị trí cũ thì M đồng ý. M lấy ra 02 hộp pháo bỏ vào trong hai bao nilon và lấy ra một bịch pháo bị bỏ vào trong người rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda winer biển kiểm soát 49S1- 092.02 mang đến điểm hẹn để giao cho H1. Khi M lên tới nơi thì gặp H1 vừa tới, M rủ H1 đi vào nhà chị gái là Nguyễn Thị L ở đối diện cổng phân trường của Trường THCS H7 để giao dịch. M và H1 đi vào phòng cuối cùng của nhà bà L, tại đây H1 đưa cho M số tiền 2.400.000đồng rồi đi ra lại ngoài đường. M cất giấu bịch nilon chứa bịch pháo bi vào gầm giường trong phòng rồi đi ra ngoài đường giao 02 hộp pháo cho H1 và điều khiển xe về nhà.
Sau khi nhận pháo, Nguyễn Văn H1 đã bán 01 hộp pháo cho Nguyễn Tiến Q rồi đi vào nhà bà Nguyễn Thị L ngồi chơi. Còn Q trên đường mang pháo về nhà cất giấu thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện nên đã lập biên bản ghi nhận sự việc và tạm giữ niêm phong tang vật. Ngay sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà bà Nguyễn Thị 1 thì phát hiện Nguyễn Văn H1 đang cất giấu 01 hộp pháo đã mua của M trước đó. Bà Nguyễn Thị L sau khi kiểm tra phòng ngủ và phát hiện Nguyễn Văn M cất giấu số pháo bi trong nhà mình thì cũng tự nguyện giao nộp 01 bịch pháo bi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi lực lượng Công an tới mời làm việc, Nguyễn Văn M biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên đã tự nguyện khai báo và giao nộp 04 hộp pháo còn lại mà M đang cất giấu trong nhà.
Đối với 03 hộp pháo mà Nguyễn Văn H1 mua của M trước đó thì H1 đã bán cho ông Nguyễn Vũ T1 01 hộp, ông Tạ Duy H2 02 hộp để sử dụng dịp tết. Qua làm việc, ông T1 và ông H2 đã thừa nhận hành vi vi phạm đồng thời giao nộp toàn bộ số pháo đã mua của H1.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:
01 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước 17x17x10cm, có nhiều họa tiết và chữ nước ngoài nghi là pháo nổ được niêm phong có tên và chữ ký của Cấn H, K' Thuyết, Hoàng Văn L1, Nguyễn Văn H1 và dấu tròn đỏ của Công an xã L, huyện L (ký hiệu là mẫu A1);
01 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước 17x17x10cm, có nhiều họa tiết và chữ nước ngoài nghi là pháo nổ được niêm phong có tên và chữ ký của Ngô Thành L2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Xuân Quang V, Nguyễn Tiến Q và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L (ký hiệu là mẫu A2);
04 hộp giấy bên ngoài có nhiều màu sắc nghi là pháo nổ được niêm phong, có tên và chữ ký của Mai Quang T2, Nguyễn Công V1, Phạm Hoàng Việt A, Bùi Văn H4, Nguyễn Văn M và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L (ký hiệu là mẫu A3);
01 túi nilon bên trong chứa 100 viên nhựa hình cầu nhiều màu sắc có dây dẫn từ trong ra ngoài nghi là pháo nổ được niêm phong, có tên và chữ ký của Cấn H, K' Thuyết, Hoàng Văn L1, Nguyễn Thị L và dấu tròn đỏ của Công an xã L, huyện L (ký hiệu là mẫu A4);
01 hộp giấy có in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ được niêm phong có tên và chữ ký của Hoàng Văn H5, K, Nguyễn Vũ T1 và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L (ký hiệu là mẫu A5);
02 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước 18x18x10cm có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài nghi là pháo nổ được niêm phong, có tên và chữ ký của Cấn Hoàng L3, Nguyễn Thị Đ, Tạ Duy H2 và dấu tròn đỏ của Công an xã L (ký hiệu là mẫu A6);
T3 của Nguyễn Tiến Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 màu xám đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 49D1 – 502.92 đã qua sử dụng;
Thu của Nguyễn Văn H1 số tiền 1.300.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu đen đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 49E1 – 211.87 đã qua sử dụng;
Thu của Nguyễn Văn M 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A25 màu xanh đã qua sử dụng; số tiền 2.400.000đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu honda winer biển kiểm soát 49S1- 092.02 màu đen trắng đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 12/01/2024 Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: toàn bộ mẫu vật ký hiệu A1, A2, A3, A5, A6 gồm 09 khối hộp gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 15,9 kg, trong đó:
- Mẫu ký hiệu A1 gồm 01 khối hộp C0850 có khối lượng 1,7 kg;
- Mẫu ký hiệu A2 gồm 01 khối hộp C0850 có khối lượng 1,7 kg;
- Mẫu ký hiệu A3 gồm 04 khối hộp C0850 có khối lượng 07 kg;
- Mẫu ký hiệu A5 gồm 01 khối hộp AY04-23-001 có khối lượng 1,8 kg;
- Mẫu ký hiệu A6 gồm 02 khối hộp AY04-23-001 có khối lượng 3,7 kg;
Còn 100 viên hình cầu mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra (ký hiệu A4) gửi giám định là pháo nổ, khối lượng 0,43 kg.
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Văn M về tội: “Mua bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, điểm 1 khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Mua bán hàng cấm”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, điểm 1 khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo M từ 05 đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận: vào ngày 04/01/2024, tại thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi bán 05 hộp pháo nổ là loại hàng cấm có khối lượng là 8,9 kg cho Nguyễn Văn H1. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi cất giấu 04 hộp pháo nổ có khối lượng 07 kg và 100 viên pháo nổ hình cầu có khối lượng 0,43kg nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Theo kết luận giám định của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận 09 khối hộp gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có khối lượng là 15,9 kg và 100 viên pháo hình cầu gửi giám định là pháo nổ có khối lượng 0,43 kg; tổng cộng là 16,33 kg pháo nổ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Mua bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1, điểm 1 khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Việc mua bán pháo trái phép nhằm mục đích kiếm lời là hành vi vi phạm pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, bởi pháo là vật liệu nổ nguy hiểm có thể gây ra nhiều tác hại không thể lường trước được. Chính vì vậy, Nhà nước có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng pháo. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức và ý thức được pháo nổ là loại hàng hóa Nhà nước ta cấm sử dụng, cấm kinh doanh nhưng bị cáo vẫn mua đi bán lại nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét thấy năm 2006, 2009, 2011 bị cáo đã ba lần liên tiếp bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích thì đến năm 2015 bị cáo lại tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2023 nhưng chưa được xóa án tích thì lại phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp áp dụng tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện, biết tuân thủ pháp luật. Do đó, cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa.
Đối với Nguyễn Văn H1 thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ cho người khác cụ thể H1 đã bán cho ông Nguyễn Vũ T1 01 hộp, Tạ Duy H2 02 hộp và bán cho Nguyễn Tiến Q 01 hộp. Tuy nhiên, qua điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xác định hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội buôn bán hàng cấm nên đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính và ngày 28/3/2024 UBND huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 987/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn H1 về hành vi buôn bán hàng cấm với mức phạt tiền là 96.300.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Tạ Duy H2 có hành vi tàng trữ 02 hộp pháo nổ, tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xác định hành vi của H2 không đủ yếu tố cầu thành tội tàng trữ hàng cấm nên đã chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính và ngày 28/3/2024 UBND huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 988/QĐ-XPHC đối với Tạ Duy H2 về hành vi tàng trữ hàng cấm với mức phạt tiền là 40.000.000đồng. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Vũ T1 và Nguyễn Tiến Q đã có hành vi tàng trữ 01 hộp pháo nổ. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xác định hành vi của T1 và Q không đủ yếu tố cầu thành tội tàng trữ hàng cấm. Vì vậy ngày 28/3/2024, Công an huyện L đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Vũ T1 và Nguyễn Tiến Q về hành vi tàng trữ hàng cấm với mức xử phạt tiền 7.500.000đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Thị L không biết việc Nguyễn Văn M buôn bán pháo nổ và cất giấu 100 viên pháo nổ hình cầu tại nhà của mình nên không xem xét xử lý về hành vi buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm.
Đối với người đàn ông bán 09 hộp pháo nổ và 100 viên pháo nổ hình cầu cho bị cáo M, đến nay vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ và xử lý sau.
[6].Về xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng của vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với một bao tải màu đỏ, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức H6, Nguyễn Duy N và dấu tròn đỏ của Công an tỉnh L- phòng K1 bên trong đựng: 06 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ có nội dụng C0850, bên trong mỗi khối đều chứa 48 viên viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra, trong đó mẫu ký hiệu A1 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A2 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A3 gồm 04 khối; 95 viên pháo hình cầu nhiều màu sắc mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong ra; 03 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ AY04-23-001, bên trong mỗi khối chứa 49 viên lỗ đồng dạng mỗi lỗ có đường kính trong là 02 cm. Trong các lỗ chứa các viên pháo hình trụ tròn đồng dạng gồm 47 viên và có sợi dây dẫn truyền từ đáy hộp ra, trong đó mẫu ký hiệu A5 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A6 gồm 02 khối. Đây là bao tải chứa pháo nổ nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động samsung G A25 màu xanh đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này dùng để liên lạc mua bán pháo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 2.400.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda winer biển kiểm soát 49S1- 092.02 màu đen trắng thu giữ của bị cáo M, xét thấy chiếc xe này bị cáo dùng làm phương tiện để nhận và giao pháo, đây là hành vi vi phạm pháp luật nên cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 49E1 – 211.87 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H1 đã bị tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 987/QĐ-XPHC ngày 28/3/2024 của UBND huyện L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 màu xám đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 49D1 – 502.92 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến Q; số tiền 1.300.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H1. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Tiến Q và Nguyễn Văn H1. Tại phiên tòa, anh Q và anh H1 không có yêu cầu gì đối với các tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1, điểm 1 khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn M 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tuyên:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: một bao tải màu đỏ, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức H6, Nguyễn Duy N và dấu tròn đỏ của Công an tỉnh L- phòng K1 bên trong đựng:
- 06 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ có nội dụng C0850, bên trong mỗi khối đều chứa 48 viên viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra, trong đó mẫu ký hiệu A1 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A2 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A3 gồm 04 khối;
- 95 viên pháo hình cầu nhiều màu sắc mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong ra;
- 03 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ AY04-23-001, bên trong mỗi khối chứa 49 viên lỗ đồng dạng mỗi lỗ có đường kính trong là 02 cm. Trong các lỗ chứa các viên pháo hình trụ tròn đồng dạng gồm 47 viên và có sợi dây dẫn truyền từ đáy hộp ra, trong đó mẫu ký hiệu A5 gồm 01 khối, mẫu ký hiệu A6 gồm 02 khối.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động samsung G A25 màu xanh đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bưu điện có chữ ký của Bùi Mạnh L4, K' Thuyết, Hoàng Văn L1, Nguyễn Văn M và dấu tròn màu đỏ của Công an xã L, huyện L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda winer biển kiểm soát 49S1- 092.02 màu đen trắng đã qua sử dụng.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.400.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001138 ngày 12/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 120/2024/HS - ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 120/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M phạm tội Buôn bán hàng cấm
