|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số 120/2024/HSST Ngày 05/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa
Ông Trần Ngọc Thịnh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm- Cán bộ Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị N, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/TLST - HS ngày 17/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Vĩnh D; Giới tính: Nam; Sinh 2002; Nơi thường trú và nơi ở: Phòng 2307, CT1, Chung cư S, đường T, phường M, quận N, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học C1; Họ tên bố: Trần Hải A; Họ tên mẹ: Vũ Thanh H
Tiền án, tiền sự: Không.
D1 chỉ bản số 00147, lập ngày 19/3/2024 tại Công an quận H. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/3/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trung C - Sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Số A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 14/3/2024, tổ công tác Công an phường H trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Trần Vĩnh D đang ngồi trên xe máy Honda Spacy màu trắng, BKS 29L1- 752.10 và Nguyễn Trung C (Sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Số A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) đang đứng tại khu vực lòng đường ngã 3 L - L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D tự nguyện giao nộp 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen trắng bên trong có 02 túi ni lông kích thước (5x8)cm chứa thảo mộc khô và khai nhận là ma túy “cần sa” mang đi bán cho khách. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an phường H giải quyết.
Thu giữ của Trần Vĩnh D:
- 02 túi ni lông màu trắng kích thước (5x8)cm bên trong chứa thảo mộc khô;
- 01 mũ bảo hiểm màu đen trắng đã qua sử dụng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng, BKS 29L1- 752.10, số máy JF04E2120003, số khung JF041306541 đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số Imei 1: 355178166790175, số Imei 2: 355178168690316, kèm sim số 0367595113. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ nội dung tin nhắn zalo giữa tài khoản “V” và tài khoản “Academy” liên quan đến ma túy.
Thu giữ của Nguyễn Trung C: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số IMEI 359236068511283, kèm sim số 0589240639. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ nội dung tin nhắn zalo giữa tài khoản “V” và tài khoản “Academy” liên quan đến ma túy.
Qua xét nghiệm, Trần Vĩnh D dương tính với ma túy Cần sa. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Vĩnh D tại P2307, CT1 Chung cư S, đường T, phường M, quận N, TP Hà Nội không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 2112/KL- KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận số tang vật thu giữ của Trần Vĩnh D: Thảo mộc khô bên trong 02 túi ni lông đều là Cần sa, tổng khối lượng 9,316 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Vĩnh D khai nhận: Ngày 11/3/2024, thông qua mạng xã hội Nicegram, D đặt mua của một người không quen biết 10 gam ma túy Cần sa với giá 900.000 đồng để bán cho khách kiếm lời và được giao 02 túi ni lông kích thước (5x8)cm bên trong có ma túy Cần sa. Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 13/3/2024, D nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo “Academy” (tức Nguyễn Trung C) hỏi mua “01 hoa” ma túy Cần sa (tức 10 gam). D đồng ý và báo giá 1.650.000 đồng (trong đó 1.600.000 đồng tiền ma túy và 50.000 đồng tiền ship). C hẹn D giao ma túy đến khu vực phố L. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/3/2024, D cất 02 túi ma túy Cần sa vào trong mũ bảo hiểm màu đen trắng rồi đội lên đầu và đi xe máy đến khu vực lòng đường ngã ba L - L để giao ma túy. Khi D đang chuẩn bị giao ma túy cần sa cho C thì bị kiểm tra bắt giữ như trên. Chiếc điện thoại Iphone 13 màu xanh là của D, có sử dụng liên hệ mua bán ma túy.
Nguyễn Trung C khai phù hợp với lời khai của Trần Vĩnh D, mục đích C mua ma túy để sử dụng. C vừa gặp D chưa kịp lấy ma túy và giao tiền thì bị kiểm tra, bắt giữ. Chiếc điện thoại Iphone 6 màu trắng là của C, có sử dụng liên hệ với D để hỏi mua ma túy. Do việc mua bán chưa hoàn thành (chưa thanh toán tiền, chưa giao ma túy) nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Trung C
Đối với chiếc xe máy Honda Spacy màu trắng, BKS 29L1- 752.10, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký mang tên Vũ Thanh H (Sinh năm: 1970; Địa chỉ: TDP số F, phường M, quận N, Hà Nội); xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Chị Vũ Thanh H khai: Mua chiếc xe máy trên năm 2019 với giá 30.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Đầu năm 2024, chị H cho con trai là Trần Vĩnh D mượn chiếc xe máy trên, không biết việc D sử dụng làm phương tiện đi mua bán ma túy phù hợp với lời khai của Trần Vĩnh D nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2640 ngày 03/6/2024 trao trả cho chị Vũ Thanh H 01 chiếc xe máy Honda Spacy màu trắng, BKS 29L1- 752.10. Chị H đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về đối tượng bán ma túy cho Trần Vĩnh D, do D khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Bản cáo trạng số 129/CT-VKS, ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Trần Vĩnh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh D mức án từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của bị cáo gồm: 01 phong bì bên trong chứa ma túy cần sa đã giám định, 01 sim điện thoại, 01 mũ bảo hiểm không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh thu giữ của bị cáo. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Trung C 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng kèm sim. Bị cáo phải nộp án phí HSST, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận H, TP . Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do dó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp các chứng cứ, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 14/3/2024, tại khu vực lòng đường ngã ba L - L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội Trần Vĩnh D đang có hành vi bán trái phép 02 túi thảo mộc khô là ma túy Cần sa, tổng khối lượng 9,316 gam cho Nguyễn Trung C với giá 1.650.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại sức khỏe con người, là mầm mống của các loại tội phạm khác, nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vì hám lời nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc truy bắt tội phạm, mẹ bị cáo có nhiều thành tích trong công tác được tặng thưởng nhiều giấy khen đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Trần Vĩnh D, giám định viên Nguyễn Thị T, người chứng kiến Hoàng Trường G, cán bộ Nguyễn Đăng S và hình dấu của công an phường bên trong có 02 túi nilon màu trắng kích thước 5x8cm, chứa thảo mộc khô đều là Cần sa, tổng khối lượng 9,316 gam, PC09 trích mẫu 0,497 gam, còn lại 8,819 gam (Theo Kết luận giám định số 2112/KL – KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H); 01 sim điện thoại 0367.595.xxx; 01 mũ bảo hiểm màu đen trắng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số IMEI 1: 355178166790175, số IMEI 2: 355178168690316 có liên quan đến việc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Trung C 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số IMEI 35923606851128301 kèm sim điện thoại.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Trần Vĩnh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh D 18(mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự :
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của Trần Vĩnh D, giám định viên Nguyễn Thị T, người chứng kiến Hoàng Trường G, cán bộ Nguyễn Đăng S và hình dấu của công an phường bên trong có 02 túi nilon màu trắng kích thước 5x8cm, chứa thảo mộc khô đều là Cần sa, tổng khối lượng 9,316 gam, PC09 trích mẫu 0,497 gam, còn lại 8,819 gam (Theo Kết luận giám định số 2112/KL – KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H); 01 sim điện thoại đã cũ; 01 mũ bảo hiểm màu đen trắng đã qua trị sử dụng
- - Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số IMEI 1: 355178166790175, số IMEI 2: 355178168690316;
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- anh Nguyễn Trung C: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số IMEI 359236068511283 kèm sim. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được để kiểm tra nên chất lượng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số imei bên trong.
- Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 17/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
Bị cáo Trần Vĩnh D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hợp lệ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Dương Thị Thu Phượng |
Bản án số 120/2024/HSST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 120/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
