Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày 05-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Nguyễn Thị Tư;
    • Ông Vũ Văn Khang.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị H, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2001, tại Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nơi tạm trú: Phòng 2504, tầng 25 Toà HH4, Chung cư H, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Đoàn Thị T; chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số F đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/12/2023, chị Phạm Thị H1 (sinh năm 1998; Trú tại: Số F Đà Nẵng, Cầu T, N, Hải Phòng) đến Công an quận N trình báo việc Phạm Thị H nhiều lần cho chị H1 vay tiền họ góp với lãi suất cao. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H, thu giữ: 01 quyền sổ ghi giấy vay nợ giữa H và chị H1; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng của H.

Quá trình điều tra, Phạm Thị H khai nhận: Do H1 có nhu cầu vay tiền nên H nảy sinh ý định cho chị H1 vay tiền với lãi suất cao để kiếm lời. H và chị H1 thống nhất với nhau 02 hình thức vay: vay lãi nằm và vay họ góp. Vay lãi nằm là chị H1 vay của H một khoản tiền gọi là tiền gốc, lãi suất 3.333 đồng/1 triệu/1 ngày. Hàng tháng, chị H1 phải đóng cho H tiền lãi cho đến khi trả được số tiền gốc. Vay họ góp là chị H1, vay H một khoản tiền thoả thuận trả góp trong khoảng một thời gian nhất định từ 35 đến 49 ngày. Hàng ngày, chị H1 phải đóng cho H số tiền gộp cả gốc và lãi chia ra trong khoảng thời gian đó cho đến hết.

Từ khoảng tháng 01/2023, H 10 lần cho chị H1 vay với tổng số tiền 215.000.000 đồng với lãi suất cao cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 18/01/2023, chị H1 vay của H 20.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp trả trong 7 tuần tức là 49 ngày thành 25.200.000 đồng. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Như vậy, H được hưởng lợi 5.200.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 193,67%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 536.986 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.663.014 đồng.

Lần 2: Ngày 20/3/2023, chị H1 vay của H bát họ 20.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 1. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 536.986 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.663.014 đồng.

Lần 3: Ngày 05/6/2023, chị H1 vay của H bát họ 10.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, trả trong 5 tuần tức là 35 ngày thành 12.000.000 đồng. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Như vậy, H được hưởng lợi 2.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,57%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 191.781 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 1.808.219 đồng.

Lần 4: Ngày 07/7/2023, chị H1 vay của H bát họ 20.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 1. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 536.986 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.663.014 đồng.

Lần 5: Ngày 10/7/2023, chị H1 vay của H bát họ 5.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, trả trong vòng 5 tuần tức là 35 ngày thành 6.000.000 đồng. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Như vậy, H được hưởng lợi 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,57%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 95.890 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 904.110 đồng.

Lần 6: Ngày 26/7/2023, chị H1 vay của H bát họ 5.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 5. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 95.890 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 904.110 đồng.

Lần 7: Ngày 02/8/2023, chị H1 vay của H bát họ 20.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 1. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 536.986 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.663.014 đồng.

Lần 8: Ngày 19/9/2023, chị H1 vay của H bát họ 5.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 5. Lần vay này, chị H1 đã trả xong. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 95.890 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 904.110 đồng.

Lần 9: Ngày 22/10/2023, chị H1 vay của H 100.000.000 đồng, dưới hình thức vay lãi nằm, với lãi suất 10.000.000 đồng/1 tháng (tính là 30 ngày), tương đương 3,333 đồng /1 triệu/1 ngày và 121,66%/năm cho đến khi trả hết nợ gốc. H1 đã đóng cho H tổng số 20.000.000 đồng tiền lãi của tháng 11 và tháng 12 và thống nhất đến ngày 22/12/2023 sẽ trả 1 phần nợ gốc. Tuy nhiên, ngày 08/12/2023, chị H1 trả H 54.400.000 đồng tiền gốc của khoản vay trên và còn nợ H 45.600.000 đồng tiền gốc. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của H1 tối đa là 20%/năm, tương đương số tiền 1.643.836 đồng của tháng 11 và 1.026.630 đồng của tháng 12. Tổng số tiền H thu lợi bất chính của 2 tháng trên là 17.329.534 đồng.

Lần 10: Ngày 11/11/2023, chị H1 vay của H bát họ 10.000.000 đồng, dưới hình thức vay họ góp, cách thức như lần 3. Bát họ này chị H1 mới đóng được số tiền 4.800.000 đồng. Như vậy, H được hưởng lợi 800.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,57%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi H được thu của chị H1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 186.301 đồng. Như vậy, H đã thu lợi bất chính số tiền 613.699 đồng.

Kết quả trưng cầu giám định điện thoại thu giữ của H ngoài những tin nhắn trao đổi về việc vay tiền giữa HH1 được sao chụp trong hồ sơ, không phát hiện dữ liệu khác liên quan đến vụ án.

Về vật chứng: 01 quyền sổ ghi giấy vay nợ giữa H và chị H1 (chuyển theo hồ sơ vụ án); 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng của H chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.

Cáo trạng số 100/CT-VKSNQ, ngày 22/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố bị cáo Phạm Thị H về các tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị H khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.

Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 15 đến 18 tháng Cải tại không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo phải chịu 2.055.791 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng của H
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • Buộc bị cáo phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 168.884.164 đồng (trong đó có: 163.400.000 đồng là số tiền gốc H cho vay đã nhận lại từ H1 và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 5.484.164 đồng). Trừ cho bị cáo số tiền 41.115.836 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002843, ngày 03/6/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự quận N. Bị cáo còn phải nộp 127.768.328 đồng.
    • Buộc bị cáo phải trả lại cho chị H1 số tiền lãi thu lời bất chính là 41.115.836 đồng.
    • Buộc chị Phạm Thị H1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 51.600.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đã có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 18/01/2023 đến ngày 11/11/2023, Phạm Thị H đã cho Phạm Thị H1 vay tổng cộng số tiền là 215.000.000 đồng với lãi suất trên 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (từ 121,66% đến 208,57%/năm). Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[4] Bị cáo đã cho chị Phạm Thị H1 vay tiền với mức lãi suất cao, thu lời bất chính tổng số tiền là 41.115.836 đồng. Vì vậy, bị cáo bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài ra bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 41.115.836 đồng là một phần tiền bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[7] Xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội và chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

[8] Tại cơ quan điều tra, bị cáo bị tạm giữ 06 ngày, từ ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Theo quy định của Điều 36 Bộ luật hình sự, 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tại không giam giữ. Vì vậy, 06 ngày tạm giữ bị cáo được tính bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ và được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt.

[9] Về việc khấu trừ thu nhập: Bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về áp dụng biện pháp tư pháp:

[11] Đối với khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã nhận từ người vay với số tiền là 5.484.164 đồng, khoản tiền lãi này không tính vào khối lượng buộc tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, đây là số tiền lãi phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[12] Đối với số tiền gốc mà bị cáo cho vay: Đây là tiền bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền gốc cho vay đã nhận lại từ chị Phạm Thị H1 là 163.400.000 đồng. Đối với số tiền gốc 51.600.000 đồng chị H1 vay chưa trả cho bị cáo, về nguyên tắc chị H1 phải trả cho bị cáo theo giao dịch dân sự. Tuy nhiên, xác định đây là tiền bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm. Bởi vậy, không buộc chị H1 phải trả lại số tiền đó cho bị cáo mà buộc chị H1 phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.

[13] Về tiền thu lợi bất chính: Về nguyên tắc, số tiền bị cáo thu lợi từ việc phạm tội phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, đối với đặc thù của loại tội phạm này do xuất phát từ giao dịch dân sự, người vay tiền của bị cáo với mục đích phục vụ kinh doanh, sinh hoạt, phục vụ cuộc sống hàng ngày, người vay đã phải chịu lãi nặng. Bởi vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người vay cần buộc bị cáo phải trả lại cho người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất trên 20% trở lên. Do đó, buộc bị cáo phải trả lại cho chị H1 số tiền thu lời bất chính là 41.115.836 đồng.

[14] Tổng cộng các khoản trên, buộc bị cáo phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 168.884.164 đồng (trong đó có: 163.400.000 đồng là số tiền gốc bị cáo cho vay đã nhận lại từ chị H1 và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 5.484.164 đồng). Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 41.115.836 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002843, ngày 03/6/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự quận N. Do vậy bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền là 127.768.328 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

[15] Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng thu giữ của H, thể hiện việc H dùng trao đổi với H1 quá trình giao dịch cho H1 vay tiền nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[16] Về án phí: Căn cứ điểm a, ck hoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[17] Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với khoản tiền phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể: 41.115.836 x 5% = 2.055.791 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Xử phạt:

Bị cáo Phạm Thị H 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho bị cáo theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng để sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo.

Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng của bị cáo theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • - Bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 168.884.164 (một trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm tám mươi tư nghìn, một trăm sáu mươi tư) đồng nhưng được trừ số tiền đã nộp là 41.115.836 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002843, ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải nộp số tiền là 127.768.328 (một trăm hai mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi tám) đồng.
  • - Bị cáo phải trả lại cho chị Phạm Thị H1 số tiền 41.115.836 (bốn mươi mốt triệu, một trăm mười lăm nghìn, tám trăm ba mươi sáu) đồng.
  • - Chị Phạm Thị H1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 51.600.000 (năm mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn) đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.055.791 (hai triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, bảy trăm chín mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp tp Hải Phòng;
  • - VKSND tp Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra, Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS Quận Ngô Quyền;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger