Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày: 04-6-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Thanh Nhàn.
  2. Ông Lục Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 24/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đoàn Tùng D, sinh ngày 01/3/2000, tại tỉnh Thanh Hoá. Nơi ĐKHKTT: Xóm A Hồ Đ, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: thợ sửa xe; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Hoàng Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/3/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Trọng N, sinh ngày 15/7/1998, tại tỉnh Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: Tổ D, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/3/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

  3. Họ và tên: Nguyễn Cường T, sinh ngày 24/8/2002, tại tỉnh Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và bà Thân Ngọc B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/10/2023; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Đỗ Ngọc Huyền L1, sinh năm 2000; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

  2. Thân Ngọc B1, sinh năm 1981; nơi cư trú: khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

  3. Ông Trần Cao T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ B, ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Tùng D, Nguyễn Trọng N, Nguyễn Cường T là bạn bè quen biết và đề nghịện ma túy đá (loại Methamphetamine). D và Đỗ Ngọc Huyền L1 sống với nhau như vợ chồng tại tiệm S1 tại đường D thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Từ đầu tháng 02/2023, D bắt đầu mua ma túy của một người đàn ông tên T2 (chưa rõ lai lịch) ở khu vực đoạn đường H thuộc thành phố B, tỉnh Bình Dương với giá từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, rồi mang về phân chia thành nhiều đoạn ống hút chứa ma túy để bán cho người khác với giá từ 200.000 đồng đến 700.000 đồng nhằm thu lợi. Khi các đối tượng nghiện có nhu cầu mua ma túy thì liên lạc với D qua số điện thoại 0961.165.xxx hoặc tài khoản zalo tên “Duy Nè” nói rõ số lượng ma túy cần mua để D chuẩn bị ma túy. Sau đó, D hẹn địa điểm để các đối tượng nghiện đến lấy ma túy. Tính đến ngày bị bắt, D đã mua ma túy của T2 khoảng 10 lần, (nhưng không xác định được thời gian, số tiền mua ma túy và đã bán cho ai đối với các lần mua ma túy trước đó của T2, D chỉ nhớ 02 lần mua ma túy gần nhất của T2 là vào ngày 10/3/2023 và ngày 12/3/2023, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Sáng ngày 10/3/2023, D gọi cho T2 hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy đá. T2 đồng ý và hẹn sẽ có người đến giao ma túy cho D. Sau đó, có 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) đem 01 túi ma túy đá bỏ trong 01 gói thuốc lá đến tiệm sửa xe bán cho D. Sáng cùng ngày, D phân túi ma túy mua được ra làm 03 đoạn ống hút, 02 túi nhỏ và đổ 01 phần ma túy vào nỏ cho N sử dụng chung với D tại tiệm sửa xe. Đối với 03 đoạn ống hút chứa ma túy, D đưa cho N 02 đoạn cất giữ, còn 01 đoạn ống hút thì khoảng 12 giờ ngày 12/3/2023, D trực tiếp bán cho T với giá 200.000 đồng. Đối với 02 túi ma túy đá còn lại, D bỏ chung vào 01 túi nylon miệng kéo dính và cất giấu ở dưới gầm giường trong tiệm sửa xe.

- Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12/3/2023, D gọi cho T2 hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy đá thì T2 hẹn giao ma túy ở khu vực đoạn đường H thuộc thành phố B, tỉnh Bình Dương. Lúc này, D rủ N đi gặp T2 mua ma túy cùng D thì N đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển số 70D1 - 200.00 chở N đi đến điểm hẹn mua được 01 (một) túi ma túy bỏ bên trong gói thuốc lá hiệu Jet với giá 2.000.000 đồng, rồi D chở N quay về tiệm sửa xe. Tại đây, D lấy gói thuốc lá chứa túi ma túy ra cất giấu dưới chiếu trải trên giường.

Trong tháng 02/2023, D đã bán ma túy cho N 03 lần tại tiệm sửa xe của D, mỗi lần 01 đoạn ống hút chứa ma túy với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng để N mang về sử dụng. Đến ngày 05/3/2023, N xin D cho N qua ở chung với D tại tiệm sửa xe. D đồng ý và nói N qua ở lại tiệm phụ D nuôi gà và đi bán ma túy thì D sẽ cho N ma túy để sử dụng và cho tiền tiêu xài, N đồng ý. D là người liên hệ với T2 mua ma túy, phân chia và cất giữ ma túy đồng thời trực tiếp bán ma túy cho các đối tượng nghiện hoặc sẽ yêu cầu N đi giao ma túy và mang tiền về giao lại cho D. N chỉ biết các lần bán ma túy mà D yêu cầu N đi bán. Khi nào D lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ của D có sẵn ở tiệm) cho N sử dụng thì N mới được sử dụng. Từ ngày 05/3/2023 đến ngày 12/3/2023 thì D đã cho N sử dụng ma túy chung với D được khoảng 10 lần tại tiệm sửa xe của D.

Khoảng 17 giờ ngày 12/3/2023, có một người đàn ông tên S (không rõ lai lịch) đến tiệm S2 mua 200.000 đồng ma túy đá nên D vào lấy túi ma túy vừa mua được phân ra thêm 01 đoạn ống hút đưa cho S. Sau đó, S ra về nhưng nợ tiền chưa trả cho D. Đối với túi ma túy còn lại, D vẫn cất ở vị trí như ban đầu. Khoảng 19 giờ cùng ngày, một người đàn ông tên B2 (chưa rõ lai lịch) liên hệ với D hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá, D hẹn Bị giao ma túy tại khu vực đoạn đường D thuộc khu phố F, phường T, thị xã B. D tiếp tục lấy túi ma túy mua trưa ngày 12/3/2023 phân ra thêm 01 đoạn ống hút đưa cho N đem đi bán cho B2. Sau đó, N đến địa điểm hẹn giao đoạn ma túy cho B2 thì B2 đưa cho N 300.000 đồng và nói 400.000 đồng sẽ chuyển khoản cho D. N lấy 300.000 đồng đem về đưa cho D thì được D trả công 100.000 đồng. Số tiền 400.000 đồng còn lại, D nói B2 chuyển vào số tài khoản V số 0841000066972 của L1. D nói với L1 là số tiền này có người trả nợ cho D.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/3/2023, T điều khiển xe mô tô hiệu Vision, biển số 61G1- 488.93 đến tiệm sửa xe của D chơi. Khoảng 30 phút sau, một người đàn ông tên L2 (chưa rõ lai lịch) điện thoại qua zalo cho N. Lúc này, TN đứng gần nhau, còn D đứng cách N khoảng 02 mét, N mở loa ngoài điện thoại nói chuyện với L2 nên TD đều nghe thấy L2 hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và hẹn đến khu vực vòng xoay E thuộc phường T, thị xã B để giao ma túy. D nghe vậy thì lấy túi ma túy mua trưa 12/3/2023 ra ngồi ở bàn gần giường, phân ra thêm 01 đoạn ống hút giá 500.000 đồng. Lúc này, NT nhìn thấy D phân ma túy. Sau đó, D đưa đoạn ma túy cho N đem bán cho L2, túi ma túy còn lại D cất giấu dưới chiếu trải trên giường. N cất đoạn ống hút chứa ma túy để bán cho L2 vào bóp da chung với 02 đoạn ống hút chứa ma túy mà D đã đưa cho N trong lần mua ma túy ngày 10/3/2023. Sau đó, N hỏi mượn xe mô tô biển số 61G1- 488.93 của T để đi bán ma túy cho L2 thì T đồng ý. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/03/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 61G1- 488.93 đi đến đoạn đường DK5A thuộc khu phố C, phường T, thị xã B thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B phối hợp với Công an phường T tiến hành kiểm tra phát hiện N cất giấu ở túi quần bên phải 01 bóp da bên trong có 03 đoạn ống hút hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng. N khai tinh thể màu trắng trong 03 đoạn ống hút là ma túy đá của Đoàn Tùng D đưa cho N đem đi bán nên lực lượng Công an tiến hành bắt giữ N và thu giữ vật chứng:

  • 03 đoạn ống hút hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng;
  • 01 xe mô tô Honda Vision, màu đen nhám, biển số 61G1-488.93;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, gắn sim số 0338837241.

Vào lúc 03 giờ 45 phút ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tiến hành khám xét khẩn cấp tiệm sửa xe của D phát hiện thu giữ:

- Tại vị trí chiếc giường ở phía bên trái từ cửa nhìn vào có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng để dưới chiếu trải trên giường (ký hiệu M1) và 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 02 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng để dưới gầm giường (ký hiệu M2).

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đặt sát chân giường;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, gắn sim số 0961165367.

- 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 70D1-200.00.

Theo Kết luận giám định số 136, 137 ngày 21/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; 03 đoạn ống hút chứa ma túy có khối lượng 0,3624 gam; 01 túi nylon chứa ma túy có khối lượng 5,3245 gam (M1); 02 túi nylon chứa ma túy có khối lượng 1,1763 gam (M2). H1 lại mẫu vật được niêm phong có khối lượng 0,3057 gam (03 đoạn ống hút); 4,9940 gam (M1), 0,9470 gam (M2).

Ngoài ra, Đoàn Tùng D, Nguyễn Cường T và Nguyễn Trọng N khai: T liên hệ trực tiếp mua ma túy của D 03 lần, mỗi lần 01 đoạn ống hút chứa ma túy với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng, trong đó: 02 lần trong tháng 02/2023 gồm: 01 lần D bán ma túy ở khu vực gần cổng khu công nghiệp M III và 01 lần T đến tiệm sửa xe của D mua; 01 lần vào khoảng 12 giờ ngày 12/3/2023, T đến tiệm sửa xe của D gặp D mua ma túy. N chỉ biết T có mua ma túy của D nhưng không biết cụ thể mua số lượng bao nhiêu vì TD tự thỏa thuận mua bán ma túy với nhau. Số lượng ma túy lực lượng Công an thu giữ 03 túi ma túy tại tiệm sửa xe và 03 đoạn ma túy trong người N đều nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện khác.

Nguyễn Cường TNguyễn Trọng N khai: Ngoài những lần D cho N sử dụng ma túy tại tiệm sửa xe, D còn cho T sử dụng ma túy 03 lần tại đây, cụ thể: Lần 1 là khoảng 16 giờ ngày 10/3/2023, lần 2 là khoảng 14 giờ ngày 11/3/2023 và lần 3 là khoảng 12 giờ ngày 12/3/2023. Trong đó, lần 2 và 3 là ngay sau khi D đổ ma túy vào nỏ cho DN cùng sử dụng chung thì T đến tiệm, D đưa nỏ có sẵn ma túy bên trong cho T sử dụng, D cho T sử dụng ma túy không có lấy tiền hay trao đổi lợi ích gì khác. Tất cả lời khai bạn đầu, Đoàn Tùng D đều thừa nhận có cho NT sử dụng ma túy tại tiệm sửa xe nhiều lần nhưng đến lời khai ngày 03/01/2024, D thay đổi lời khai chỉ thừa nhận việc cho N sử dụng ma túy, không thừa nhận cho T sử dụng ma túy.

Đối với xe mô tô biển số 61G1-488.93, xe do mẹ của Nguyễn Cường T là bà Thân Ngọc B (sinh năm 1981, nơi thường trú: Khu phố D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Ngày 12/3/2023, B cho T mượn xe đi chơi, không biết việc T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Ngày 08/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B xử lý giao trả xe mô tô biển số 61G1-488.93 cho bà Thân Ngọc B1.

Đối với xe mô tô biển số 70D1-200.00, xe do ông Trần Cao T1 đứng tên đăng ký. Năm 2019, ông T1 bán xe cho một người tên H2 (không rõ lai lịch). Đầu năm 2023, D mua lại xe mô tô từ một người đàn ông không rõ lai lịch. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát đề nghị Toà án xử lý theo quy định pháp luật.

Qua tra cứu, đối tượng tên B2 chuyển số tiền 400.000 đồng mua ma túy cho Đoàn Tùng D thông qua công ty chuyển tiền dịch vụ nên không xác minh được nhân thân lai lịch của B2.

Cáo trạng số 121/CT-VKSTDM ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương:

  • Truy tố bị cáo Đoàn Tùng D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • Truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • Truy tố bị cáo Nguyễn Cường T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Tùng D mức hình phạt từ 09 năm tù đến 10 năm tù.

  • + Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Tùng D mức hình phạt từ 08 năm tù đến 09 năm tù.

  • Đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đoàn Tùng D chấp hành hình phạt chung từ 17 năm tù đến 19 năm tù.

  • + Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N mức hình phạt từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Cường T mức hình phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư dán kín số 136/PC09 được niêm phong có chữ ký người bị bắt Nguyễn Trọng N, chữ ký của người chứng kiến Lê Thanh H3, Đỗ Trọng H4, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 02 (hai) bì thư dán kín số 137/PC09 (M1, M2) được niêm phong có chữ ký người bị bắt Đoàn Tùng D, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Cường T, Đỗ Ngọc Huyền L1, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, điều tra viên Lâm Quốc H6, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) sim số 0338837241; 01 (một) sim số 0961165367.

Tịch thu vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng; 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 70D1-200.00.

- Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được việc vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Đối với Đoàn Tùng D: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 02/2023, Đoàn Tùng D đã 10 lần mua chất ma tuý (Methamphetamine) sau đó mang về nơi ở trọ, phân thành từng liều nhỏ sau đó bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bình Dương. Cụ thể: Bán cho Nguyễn Trọng N 03 lần, bán cho Nguyễn Cường T 03 lần, bán cho các đối tượng gồm S, B2, L2 mỗi người một lần. Ngoài ra, trong khoảng thời gian nên trên, Đoàn Tùng D còn sử dụng nơi ở trọ của mình, cung cấp chất ma tuý, dụng cụ sử dụng chất ma tuý cho Nguyễn Trọng N (10 lần sử dụng trái phép chất ma tuý), Nguyễn Cường T (03 lần sử dụng trái phép chất ma tuý trong đó 02 lần có Nghĩa tham gia sử dụng cùng với T vào các ngày 11 và 12/3/2023). Căn cứ Kết luận giám định số 136, 137 ngày 21/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B thể hiện, chất ma tuý mà Đoàn Tùng D mua về nhằm để bán lại là M có khối lượng 6,8632 gam. Do đó, hành vi của Đoàn Tùng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.2] Đối với Nguyễn Trọng N, Nguyễn Cường T: Trong khoảng thời gian nên trên, Nguyễn Trọng N đã 01 lần cùng D đi mua chất ma tuý từ T, sau đó 02 lần giúp D bán trái phép chất ma tuý cho các đối tượng tên B2, L2 nhằm mục đích được D cho sử dụng chất ma tuý và tiền tiêu xài. Căn cứ Kết luận giám định số 136, 137 ngày 21/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B thể hiện, chất ma tuý mà Nguyễn Trọng N có vai trò đồng phạm với D mua về nhằm để bán lại là M có khối lượng 5,6869 gam. Đối với Nguyễn Cường T, vào ngày 12/3/2023, dù biết rõ Nguyễn Trọng N mượn xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61G1-488.93 để đi bán ma tuý (Metrhamphetamine có khối lượng 0,3624 gam) cho đối tượng tên L2 nhưng vẫn đồng ý giúp sức. Do đó, hành vi của Nguyễn Trọng N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; hành vi của Nguyễn Cường T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.3] Tất cả các bị cáo đều đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đối với hành vi của Đỗ Ngọc Huyền L1, căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, chưa đủ cơ sở xác định có vai trò đồng phạm với Đoàn Tùng D nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Do đó, đối với các bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo D đóng vai trò chính, là người liên hệ mua chất ma tuý về tàng trữ, sau đó mang đi bán cho các đối tượng nghiện khác; bị cáo N, T có vai trò đồng phạm trong việc giúp sức cho D bán trái phép chất ma tuý cho những đối tượng nghiện. Do đó, mức hình phạt của D phải cao hơn các bị cáo còn lại.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo Nguyễn Trọng N đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục vụ đất nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với tình tiết có cậu là liệt sĩ của Nguyễn Trọng N, do không là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.

[6] Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì thư dán kín số 136/PC09 được niêm phong có chữ ký người bị bắt Nguyễn Trọng N, chữ ký của người chứng kiến Lê Thanh H3, Đỗ Trọng H4, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 02 (hai) bì thư dán kín số 137/PC09 (M1, M2) được niêm phong có chữ ký người bị bắt Đoàn Tùng D, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Cường T, Đỗ Ngọc Huyền L1, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, điều tra viên Lâm Quốc H6, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) sim số 0338837241 (không kiểm tra được số seri); 01 (một) sim số 0961165367 (không kiểm tra được số seri).

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám (có 01 camera, kích thước 6,5 x 14cm, không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng (có vết rịa ngang màn hình, không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 70D1-200.00, số máy 55P1-276733, không kiểm tra được số khung (xe không gương, không khoá, xe đã bị độ lại một số phụ tùng) là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Buộc Nguyễn Trọng N nộp số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), Đỗ Ngọc Huyền L1 nộp số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

[8] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đoàn Tùng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Cường T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt:

    1. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Tùng D 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Tùng D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    3. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2023.

    4. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2023.

    5. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cường T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2023.

  3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì thư dán kín số 136/PC09 được niêm phong có chữ ký người bị bắt Nguyễn Trọng N, chữ ký của người chứng kiến Lê Thanh H3, Đỗ Trọng H4, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 02 (hai) bì thư dán kín số 137/PC09 (M1, M2) được niêm phong có chữ ký người bị bắt Đoàn Tùng D, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Cường T, Đỗ Ngọc Huyền L1, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành P1, điều tra viên Lâm Quốc H6, đại uý Nguyễn Thanh H5 (phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ công an phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) sim số 0338837241 (không kiểm tra được số seri); 01 (một) sim số 0961165367 (không kiểm tra được số seri).

    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám (có 01 camera, kích thước 6,5 x 14cm, không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng (có vết rịa ngang màn hình, không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 70D1-200.00, số máy 55P1-276733, không kiểm tra được số khung (xe không gương, không khoá, xe đã bị độ lại một số phụ tùng).

    • Buộc Nguyễn Trọng N nộp số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), Đỗ Ngọc Huyền L1 nộp số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

      (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).

  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger