Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

Bản án số: 120/2025/HSST

Ngày 10-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hồng Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và ông Lê Đình Hiệp.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hứa Thị Ngọc Hà, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 10/11/2025, tại Phòng xét xử số C, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2025/TLST-HS ngày 20/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-HS ngày 27/10/2025, đối với các bị cáo:

  1. TRẦN NGỌC G, tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 5 năm 1985, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã A, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã A, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc Sán dìu, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Trịnh Thị L1 (đã chết); có vợ là Chu Thị Vân A và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

  2. ĐỖ VĂN H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 10 năm 1985, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 và bà Phạm Thị H2; có vợ là Nguyễn Thị H3 và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

  3. ĐOÀN NGỌC HƯNG, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 7 năm 1984, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc P và bà Đào Thị S; có vợ là Trần Thị H4 và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

  4. TRIỆU VĂN PHONG, tên gọi khác: Không; sinh ngày 4 tháng 01 năm 1982, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Việt H5 và bà Lục Thị T (đã chết); có vợ là Lê Thị T1 và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

  5. NGUYỄN ĐÌNH L2, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 12 năm 1966, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H6 (đã chết); có vợ là Nguyễn Tuyết N và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Ông Đặng Xuân V, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Đình P1; sinh năm 1957, địa chỉ: Tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T kiểm tra tại phòng ngủ của cửa hàng M thuộc tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện Trần Ngọc G, Đoàn Ngọc H7, Đỗ Văn H, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2 đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền. Tổ công tác tiến hành kiểm đếm số tiền các đối tượng đang sử dụng để đánh bạc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 17.800.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ mặt phía sau màu xanh, gồm 36 lá bài từ quân A đến quân 9; 01 tấm thảm vải màu đỏ, viền màu vàng, kích thước 1,85 x 1,44m đã qua sử dụng và tạm giữ số tiền do H7, V và K giao nộp.

Tại Cơ quan điều tra, G, H7, H, P2 và L2 đều khai nhận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 20/8/2025, G, H và P2 đang ngồi chơi uống nước tại cửa hàng ô tô thế giới xe hơi Thái Nguyên của G, cả 03 người cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền, các bị cáo sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt phía sau màu xanh do G đi mua để đánh bạc bằng hình thức đánh bài ba cây được thua bằng tiền Việt Nam đồng.

Về số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc: Khi tham gia chơi, các bị cáo đã sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: G sử dụng số tiền 3.500.000 đồng, H sử dụng số tiền 4.000.000 đồng, H7 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng. Giảng, H, H7 đánh bạc được khoảng 10 phút, thì P2 đến tham gia chơi cùng. P2 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, L2 đến cửa hàng của G để hỏi về việc mua bán xe ô tô, khi đến L2 thấy 04 người đang đánh bạc nên đã tham gia chơi cùng. L2 sử dụng số tiền 3.300.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, ông Đặng Xuân V, anh Nguyễn Văn K đến cửa hàng của G chơi, thấy mọi người đang đánh bạc, ông V và anh K ngồi xem, không tham gia đánh bạc. Vị trí 05 người ngồi đánh bạc như sau: Từ cửa phòng ngủ vào bên tay phải đầu tiên lần lượt là G, H7, H, P2 và L2, cả 05 người đánh bạc, bằng hình thức đánh bài “Ba cây”, đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Phòng C Công an tỉnh T bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc 17.800.000 đồng, cụ thể 6.400.000 đồng trước mặt Giảng; 4.500.000 đồng trước mặt H7; 2.000.000 đồng trước mặt H; 500.000 đồng trước mặt P2; 2.400.000 đồng trước mặt L2, tại giữa thảm 2.000.000 đồng của P2. Ngoài ra, H7, V và K tự nguyện giao nộp tiền có trên người, cụ thể: H7 4.000.000 đồng, theo H7 khai nhận là tiền của em họ chị Đoàn Thị H8, sinh năm 1988, trú tại tổ A, phường Q, tỉnh Thái Nguyên gửi cầm hộ, không sử dụng vào việc đánh bạc; V 10.300.000 đồng; K 5.600.000 đồng, theo V và K khai nhận không tham gia đánh bạc. Các bị cáo xác định 17.800.000 đồng do Cơ quan Công an thu giữ trên chiếu bạc khi bắt quả tang là tiền do các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Về phương thức đánh bạc: Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây, cụ thể như sau: Người chơi sử dụng bộ bài 52 quân, bỏ bộ tứ 10, J, Q, K, bài sử dụng để chơi gồm 36 quân bài, gồm bộ tứ của các quân bài A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, về chất thì chất rô lớn nhất, sau đó đến cơ, bích, tép; độ mạnh của quân bài giảm dần từ 9>8>7>6>5>4>3>2>A, ngoại trừ A rô là lớn nhất. Trong quá trình chơi sẽ có một người được cầm bài, chia bài và so sánh số điểm của mình với những người chơi còn lại để tính thắng thua (gọi là người cầm chương). Điểm của người chơi trong mỗi ván là số lẻ của tổng điểm 03 quân bài. Ví dụ, tổng ba quân bài là 27 điểm thì được 7 điểm, tổng ba quân bài là 20 điểm thì được 10 điểm. Khi người chơi nào được 10 điểm lớn nhất sẽ thay người đang chia bài để cầm chương. Để chọn người cầm chương đầu tiên, một người chơi bất kỳ cầm bài chia đều cho những người tham gia chơi, lần lượt mỗi người 01 quân bài, chia 03 vòng để mỗi người đủ 03 lá bài rồi cộng điểm của 03 lá bài trên, ai cao điểm nhất sẽ là người cầm chương đầu tiên. Bắt đầu ván bài, trước khi chia bài thì lần lượt từng người, bắt đầu từ người ngồi cạnh người cầm chương trước sẽ cắt bài, rút lá bài ngẫu nhiên, sau đó người cầm chương căn cứ vào số quân bài do người cắt bài rút để chia bài, đếm từ người cắt bài để chia bài, người cắt bài được tính là số 1, đếm đến người nào thì chia quân bài đầu tiên cho người đó. Bắt đầu ván bài, người cầm chương chia theo chiều từ phải qua trái, lần lượt mỗi người 01 quân bài, chia 03 vòng mỗi người đủ 03 quân bài, sau đó người chơi cộng tổng số điểm của 03 quân bài của mình so bài với người cầm chương, ai có số điểm cao hơn sẽ thắng được số tiền đặt cược là 100.000 đồng. Ai được 09 và 10 điểm sẽ thắng bạc số tiền gấp đôi số tiền đã đặt cược 200.000 đồng. Khi người chơi có số điểm ngang nhau sẽ phân thắng thua, bằng việc xem chất của lá bài như quy ước ở trên.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án gồm: Số tiền 17.800.000 đồng (VNĐ) được chuyển đến tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý; 01 bộ bài tú lơ khơ mặt phía sau màu xanh gồm 36 quân bài từ quân A đến quân 9, đã qua sử dụng; 01 chiếc thảm vải màu đỏ, viền màu vàng kích thước 1,85 x 1,44m, đã qua sử dụng hiện đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án khu vực 1 tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.

Quá trình điều tra xác định 4.000.000 đồng tạm giữ của H7;10.300.000 đồng tạm giữ của anh Đặng Xuân V và 5.600.000 đồng của anh Nguyễn Văn K không sử dụng vào việc đánh bạc, nên đã trả lại cho chủ sở hữu.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Cáo trạng số 01/CT-VKSKV1TN ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo: Trần Ngọc G, Đỗ Văn H, Đoàn Ngọc H7, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề như sau:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc G, Đỗ Văn H, Đoàn Ngọc H7, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2 phạm tội "Đánh bạc".
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 58; Điều 365 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt tiền các bị cáo Trần Ngọc G, Đỗ Văn H, Đoàn Ngọc H7, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2, mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 17.800.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ mặt phía sau màu xanh gồm 36 quân bài từ quân A đến quân 9, đã qua sử dụng; 01 chiếc thảm vải màu đỏ, viền màu vàng, kích thước 1,85 x 1,44m, đã qua sử dụng.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, tại cửa hàng mua bán ô tô của bị cáo Trần Ngọc G thuộc tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên. Các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây sát phạt nhau được thua bằng tiền. Tổng số tiền do các bị cáo sử dụng để đánh bạc bị thu giữ trên chiếu bạc 17.800.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo đã có hành vi phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, điều luật có nội dung:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, là người trực tiếp cùng thực hiện tội phạm, không có sự tổ chức, phân công bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, không cấu thành tội tổ chức đánh bạc.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy, tất cả các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ rõ sự ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" và "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Ngoài ra, bị cáo H7 là con thương binh, gia đình bị cáo H năm 2020 đã tự nguyện hiến đất mở rộng đường giao thông và được địa phương xác nhận, nên hai bị cáo trên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy, các bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Do vậy cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo vừa đảm bảo tăng thu ngân sách nhà nước, vẫn có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, như vậy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 17.800.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc, xét thấy cần tịch thu sung quỹ nhà nước; đối với 01 bộ bài tú lơ khơ mặt phía sau màu xanh gồm 36 quân bài từ quân A đến quân 9, đã qua sử dụng; 01 chiếc thảm vải màu đỏ, viền màu vàng, kích thước 1,85 x 1,44m đã qua sử dụng, đây là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Các vấn đề khác: Đối với anh Đặng Xuân V và Nguyễn Văn K có mặt tại nơi đánh bạc, quá trình điều tra làm rõ anh V và anh K không tham gia đánh bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo G là người cho các bị cáo sử dụng địa điểm cửa hàng để đánh bạc, tuy nhiên bị cáo không tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, không phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc,..., nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc G, Đỗ Văn H, Đoàn Ngọc H7, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2 phạm tội "Đánh bạc".
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền các bị cáo Trần Ngọc G, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2, mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền các bị cáo Phạm Ngọc H9 và Đỗ Văn H, mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 17.800.000 đồng.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ mặt phía sau màu xanh gồm 36 quân bài từ quân A đến quân 9, đã qua sử dụng; 01 chiếc thảm vải màu đỏ viền vàng, kích thước 1,85 x 1,44m đã qua sử dụng.

    Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 79 ngày 21/10/2025 giữa Công an tỉnh T và phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên; số tiền 17.800.000 đồng theo ủy nhiệm chi số 453 ngày 24/10/2025 giữa Công an tỉnh T và Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Ngọc G, Đỗ Văn H, Đoàn Ngọc H7, Triệu Văn P2 và Nguyễn Đình L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND KV1 - Thái Nguyên;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Vương Hồng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/HSST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 120/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger