Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:120/2025/HS-ST.

Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tịnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Sơn - Nguyên giáo viên, Chủ tịch Hội khuyến học quận Nam Từ Liêm, Hà Nội

Bà Trần Thị Oanh - Nguyên Hiệu trưởng trường THCS Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Bích Thủy -Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2025/TLST-HS ngày 16/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/QĐXXST-HS ngày 02/06/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn V, sinh ngày 10/11/2007;

Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khối T, Quỳnh P, Thị xã H, Nghệ An; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Văn H, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú ngày 23/01/2025. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

- Người giám hộ cho bị cáo: Ông Lê Văn H, sinh năm 1980 – Bố đẻ của bị cáo. Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, Nghệ An. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh X – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. (Có mặt)

Bị hại:

  1. Anh Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1996. ĐKNKTT: Thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Nơi ở hiện nay: Khu L, phường D, quận H, Hà Nội. (Có mặt)
  2. Anh Triệu Đức Q, sinh năm 2004. ĐKNKTT: Khu M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện nay: TDP T, Khu L, phường D, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2024, Lê Văn V được nhận vào làm việc tại nhà hàng “Dê Đồi” ở khu đô thị D - H và ở cùng nhà trọ với anh Hoàng Tiến Đ (sinh năm: 1996, HKTT: Tân Nam, Q, Hà Giang) và anh Triệu Đức Q (sinh năm: 2004, HKTT: Đ, Y, Phú Thọ) tại số C ngõ B L, M, N, Hà Nội. Quá trình ở cùng, do V không có điện thoại nên V thường xuyên mượn điện thoại của anh Đ và anh Q để sử dụng do đó V biết mật khẩu mở điện thoại và biết anh Đ có chiếc xe máy Honda SH BKS: 23E1 - 247.25 và chìa khoá xe cùng đăng ký xe anh Đ hay để ở túi đeo chéo nên V nảy sinh ý định trộm cắp xe máy, điện thoại của anh Đ và anh Q mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 01h ngày 02/11/2024, khi anh Đ và anh Q đã ngủ say, V đã lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của anh Đ và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của anh Q để trên đầu giường rồi cất vào trong túi quần, tiếp đó Vũ lục túi xách của anh Đ lấy chìa khoá xe cùng đăng ký xe máy Honda BKS: 23E1 - 247.25 đi xuống khu để xe, trộm cắp chiếc xe máy Honda SH BKS: 23E1 – 247.25 của anh Đ đi đến khu vực Bến xe M để tìm người tiêu thụ tài sản.

Sáng ngày 02/11/2024, anh Đ và anh Q ngủ dậy phát hiện bị mất tài sản nên anh Đ đã lấy chiếc điện thoại khác gọi vào số điện thoại của mình thì V nghe máy và thừa nhận đã trộm cắp tài sản của anh Đ và anh Q đồng thời V hứa hẹn sẽ đem về trả nhưng sau đó V không trả lại tài sản mà đi xe máy ra bến xe M và bán 02 chiếc điện thoại chiếm đoạt được của anh Đ và anh Q cho một người đàn ông không quen biết với giá 13.300.000 đồng (chiếc Iphone 12 Promax của anh Đ bán được 9.300.000 đồng, chiếc Iphone 11 Promax của anh Q bán được 4.000.000 đồng). Số tiền này V đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi bán điện thoại, V điều khiển xe máy Honda SH BKS: 23E1 – 247.25 của anh Đ đi về quê tại phường Q, thị xã H, Nghệ An để tìm chỗ cầm cố xe. Do V nhớ ra trong tin nhắn giữa V với anh Đ có ảnh căn cước công dân của anh Đ nên V đã in căn cước công dân 2 mặt của anh Đ ra để đem đi cầm cố. Đến ngày 05/11/2024, V mang chiếc xe máy trộm cắp được đến tiệm cầm dồ “Dũng H1” tại khối Á, phường Q, Thị xã H, Nghệ An gặp anh Phan Văn D (sinh năm: 1981, HKTT: Khối Á, phường Q, Thị xã H, Nghệ An) là chủ cửa hàng để cầm cố xe. Anh D1 hỏi nguồn gốc xe thì V nói là xe của mình mua lại của anh Hoàng Tiến Đ và đưa đăng ký xe bản án gốc cùng căn cước công dân photo của anh Đ. Anh Dũng kiểm tra và hỏi giấy mua bán thì V nói dối giấy tờ mua bán xe đang để ở Hà Nội chưa mang về. Do tin tưởng V nên anh D1 đồng ý nhận cầm cố chiếc xe máy với số tiền 30.000.000 đồng. Anh D1 nhận xe và giao cho V 30.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 08/11/2024, Vũ tự viết giả 01 giấy mua bán xe máy với nội dung Hoàng Tiến Đ bán xe cho Lê Văn V rồi tự ký vào giấy và mang đến gặp anh D1 đề nghị cho vay thêm số tiền 15.000.000 đồng thì anh D1 đồng ý. Đến ngày 10/11/2024, sau khi tiêu xài hết số tiền bán điện thoại và tiền cầm cố xe máy, V đề nghị bán đứt chiếc xe máy đang cầm cố cho anh D1, anh D1 đồng ý và thoả thuận giá mua bán xe là 53.000.000 đồng, V sau đó viết một giấy bán xe cho anh D1 và nhận thêm số tiền 8.000.000 đồng. Sau khi mua xe của V, ngày 14/11/2024, anh D1 đã bán chiếc xe trên cho anh V Lê H3 (sinh năm:1997, HKTT: phường Q, Thị xã H, Nghệ An – là người kinh doanh xe máy cũ) với giá 55.500.000 đồng. Anh H3 sau khi mua xe đến ngày 15/11/2024 đã bán xe cho anh Nguyễn Trung Đ1 (sinh năm: 1991, HKTT: T, T, Nghệ An – là người mua xe máy cũ) với giá 60.000.000 đồng. Anh Đ1 sau đó bán lại chiếc xe trên cho anh Đặng Văn H2 (sinh năm: 1989, HKTT: Thắng Lợi, T, Hà Nội – là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ tại Hà Nội) với giá 69.500.000 đồng. Anh H2 sau đó đã bán lại chiếc xe máy trên cho anh Hoàng Văn K (sinh năm: 1996, HKTT: Nghĩa Mai, N, Nghệ An) với giá 78.000.000 đồng.

Ngày 18/01/2025 và ngày 17/02/2025, anh Hoàng Tiến Đ và anh Triệu Đức Q đã đến công an phường M trình báo.

Ngày 23/01/2025, Lê Văn V sau khi biết việc anh Đ đã trình báo cơ quan Công an nên đã đến Công an phường M đầu thú.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Anh Đặng Văn H2 sau khi biết xe đã mua bán là tài sản do phạm tội mà có nên ngày 27/02/2025, anh H2 đã liên hệ với anh Hoàng Văn K để chuộc lại xe và thông bán cho gia đình Lê Văn V để yêu cầu hỗ trợ chi phí chuộc xe, V và gia đình sau đó đã chuyển cho anh H2 55.500.000 đồng để chuộc xe. Ngày 28/02/2025, Lê Văn V đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô Honda SH màu đen, không có BKS, số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251 đã qua sử dụng. Về việc xe không có BKS, anh H2 khai trước đó đã liên hệ nhờ người có tên Z là “Bich Hanh” để làm dịch vụ và thủ tục sang tên xe cho anh K nên đã tháo BKS xe để đi rút hồ sơ gốc, tuy nhiên do sau khi anh H2 thông báo là xe trộm cắp nên người này không đi làm thủ tục sang tên xe nữa và cắt liên lạc với anh H2 nên không lấy lại được BKS.

Vật chứng thu giữ: 01 xe Honda SH màu đen, không BKS, số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34 ngày 01/03/2025 và Bản kết luận định giá tài sản số 39 ngày 11/03/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận N, kết luận: 01 xe máy Honda SH 125i màu đen, BKS: 23E1-247.25, số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251, đăng ký lần đầu ngày 23/11/2023, đã qua sử dụng có trị giá 68.800.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax 128 GB, màu đen, mua tháng 7/2024, đã qua sử dụng có trị giá 9.200.000 đồng; 01 sim điện thoại số 0985.909.xxx có trị giá 25.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax 64 GB, màu vàng, mua cũ tháng 8/2023 với giá 12.500.000 đồng, đã qua sử dụng có trị giá 8.750.000 đồng; 01 sim điện thoại số 0968.102.xxx có trị giá 25.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 86.800.000 đồng.

Đối với xe máy Honda SH màu đen, số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251, qua xác minh xác định xe có BKS: 23E1-247.25, xe có số khung số máy nguyên thuỷ, không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng và là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Tiến Đ. Ngày 23/04/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả xe máy trên cho anh Hoàng Tiến Đ.

Đối với anh Phan Văn D, Vũ Lê H3, Nguyễn Trung Đ1, Đặng Văn H2 và Hoàng Văn K: quá trình điều tra xác định khi mua chiếc xe máy Honda SH BKS: 23E1- 247.25 đều không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập để xử lý. Ngày 24/04/2025, Cơ quan điều tra đã có công văn gửi UBND thị xã H, Nghệ An kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Văn D về hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 13 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính Phủ.

Đối với người đàn ông đã mua 02 chiếc điện thoại của V, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về dân sự: Ngày 26/04/2025, gia đình Lê Văn V đã bồi thường cho anh Hoàng Tiến Đ 9.200.000 đồng giá trị định giá chiếc điện thoại Iphone 12 Promax và bồi thường cho anh Triệu Đức Q 8.700.000 đồng giá trị định giá điện thoại Iphone 11 Promax. Anh Đ và anh Q không có yêu cầu gì về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo V. Anh Dũng, anh H3, anh Đ1, anh H2, anh K không có yêu cầu gì về dân sự.

Cáo trạng số 103/CT-VKSNTL ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định truy tố Lê Văn V tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa giữ nguyên bản Cáo trạng, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm hành vi, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 90, Điều 91; Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên. Đề nghị xử phạt bị cáo V từ 12 đến 15 tháng tù.
  • - Người bào chữa cho bị cáo - Bà X trình bày: Đồng ý về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát vừa phát biểu không có ý kiến gì và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên để cho bị cáo được hưởng dưới mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
  • - Người giám hộ cho bị cáo đồng ý với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
  • - Người bị hại, anh Đ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố được tóm tắt ở phần trên. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng phát luật. Bị cáo không tranh luận với với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, tài liệu thu giữ, vật chúng vụ án, kết luận định giá, chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h ngày 02/11/2024, tại số C ngõ B L, phường M, quận N, Hà Nội, lợi dụng đêm khuya khi các người bị hại ở cùng phòng trọ ngủ say, bị cáo Lê Văn V đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật, lục soát lấy chìa khóa và chiếm đoạt chiếc xe máy Honda SH màu đen, BKS: 23E1- 247.25 ( số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251) trị giá 68.800.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 GB màu đen trị giá 9.200.000 đồng kèm 01 sim điện thoại trị giá 25.000 đồng của anh Hoàng Tiến Đ. Ngoài ra còn chiếm đoạt thêm chiếc điện thoại Iphone 11 Promax 64 GB màu vàng, trị giá 8.750.000 đồng kèm 01 sim điện thoại trị giá 25.000 đồng của anh Triệu Đức Q. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của hai người là 86.800.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình, bức xúc đối với người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo biết rõ hậu quả gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, thu lời bất chính nên việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử và áp dụng hình phạt ngiêm khắc là cần thiết.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình để khắc phục hậu quả, đầu thú. Những người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nhưng do tính chất hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, tài sản bị cáo chiếm đoạt tuy đã được khắc phục nhưng có giá trị tương đối lớn. Sau khi chiếm đoạt, bị cáo đã được người bị hại yêu cầu trả lại tài sản nhưng bị cáo không thực hiện mà tiếp tục mang đi bán gây khó khăn thiệt hại tiếp đối với người bị hại và những người liên quan khác, thể hiện ý thức của bị cáo là xem nhẹ quyền tài sản người khác và không sợ pháp luật nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội trong thời gian tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi để cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đ và anh Q đều đã được nhận lại tài sản và bồi thường trị giá tài sản không có yêu cầu gì về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX không xem xét. Anh Dũng, anh H3, anh Đ1, anh H2, anh K không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.

Đối với xe máy Honda SH màu đen, số khung: RLHJF9538PY102085, số máy: JK18E0404251, qua xác minh xác định xe có BKS: 23E1-247.25, xe có số khung số máy nguyên thuỷ, không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng và là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Tiến Đ. Ngày 23/04/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả xe máy trên cho anh Hoàng Tiến Đ là có căn cứ.

Đối với các anh Phan Văn D, Vũ Lê H3, Nguyễn Trung Đ1, Đặng Văn H2 và Hoàng Văn K: quá trình điều tra xác định khi giao dịch, cầm cố và mua bán chiếc xe máy Honda SH BKS: 23E1- 247.25 đều không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập để xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với người đàn ông đã mua 02 chiếc điện thoại của V, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh và áp dụng tất cả các biện pháp, nghiệp vụ điều tra nhưng không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp nhận định của HĐXX nên không chấp nhận

Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt cũng như về trách nhiệm Dân sự và xử lý vật chứng cơ bản là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS. Luật Tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội.

Xử phạt bị cáo Lê Văn V 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  1. Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 589 BLDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về vật chứng: Không

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Những người bị hại đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người bào chữa, đại diện giám hộ cho bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận

  • - Bị cáo; đại diện giám hộ cho bị cáo; người bị hại; người bào chữa;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tịnh.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 120/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÊ VĂN VŨ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger