|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 120/2025/HS-ST Ngày: 15-04-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hồng
2. Bà Nguyễn Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Tạ Minh Hảo- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37A/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phạm Anh D; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 07 năm 1987 tại huyện A, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối Y, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Phạm Anh N (Đã chết). Họ và tên mẹ: Đặng Thị H, S năm 1959; A, chị, em ruột: Có ba người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Hà Thị Quỳnh H1, Sinh năm 1987. Con: Có 03 người, con lớn sinh năm 2013, con thứ sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh; Có mặt tại phiên tòa;
- Nguyễn Tiến D1; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 08 năm 1983 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Không; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Viên chức Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Nghệ An; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H2, S năm 1951.Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, S năm 1953.Anh, chị, em ruột: Có một người, bị cáo là con duy nhất.Vợ: Nguyễn Thị T2, Sinh năm 1986.Con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh; Có mặt tại phiên tòa;
- Phan Hữu H3; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 04 năm 1992 tại huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Ngách E, ngõ A, đường N, khối Y, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Phan Hữu L, Sinh năm 1949; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T3, S năm 1957. Anh, chị, em ruột: Có hai người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Khánh L1, Sinh năm 1991. Con: Có 02 người, con thứ nhất, sinh năm 2020; con thứ hai sinh tháng 12 năm 2024. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh; Có mặt tại phiên tòa;
- Nguyễn Anh T4; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 10 năm 1978 tại Thành phố V, tỉnh Nghệ An.Nơi cư trú: Khối Y, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Xuân Q (đã mất). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H4, S năm 1955. Anh, chị, em ruột: Có năm người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Thanh H5, Sinh năm 1986. Con: Có 03 người, con lớn sinh năm 2009, con thứ sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 4 năm 2024, khi đang làm việc tại tỉnh Quảng Trị, Phạm Anh D đã mua 02 (hai) dàn pháo hoa nổ, loại 36 ống của một người không quen biết (Chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể) với số tiền 700.000 đồng (B trăm nghìn đồng) rồi đưa về cất giấu để khi có dịp lễ, tết sẽ mang đốt nổ. Đến 19 giờ ngày 21 tháng 11 năm 2024, Phạm Anh D cùng Nguyễn Anh T4, Phan Hữu H3 và Nguyễn Tiến D1 đi đến nhà anh Nguyễn Văn T5 (địa chỉ số B, đường N, khối Đ, thành phố V) để dự sinh nhật con gái anh T5. Đến 20 giờ cùng ngày, khi đang ăn uống, Nguyễn Anh T4 có nói: “Có dàn pháo mô ta đưa ra nổ cho vui” thì Phạm Anh D trả lời:“Nhà em có pháo, để em về lấy cho”. Sau đó, Phạm Anh D đi về nhà tại số B, ngõ A, đường N, khối Y, phường Đ, thành phố V lấy 01 (một) dàn pháo hoa nổ, loại 36 ống cất giấu trên ban công tầng ba, rồi quay lại nhà anh T5. Đến nơi, Phạm Anh D đưa dàn pháo cho T4. T4 cầm lấy dàn pháo, xé giấy bọc bên ngoài để lộ ra dây cháy chậm rồi đưa cho H3 và nói “H3 đốt đi, cẩn thận dây điện”. Sau đó, H3 cầm dàn pháo cùng T4 và Phạm Anh D đi ra ngoài đường N. Đến 20 giờ 13 phút cùng ngày, T4 và Phạm Anh D dùng tay chỉ cho H3 đặt dàn pháo ở giữa lòng đường Nguyễn Trường T6 đoạn qua trước nhà anh T5 nhưng do sợ pháo phụt trúng dây điện được mắc qua đường nên Phan Hữu H3 đã đặt dàn pháo tại vị trí giữa lòng đường Nguyễn Trường T6, cách ngã tư đường N giao đường T khoảng 07 mét, cách cổng anh T5 khoảng 03 mét và cách vạch kẻ tim đường khoảng 03 mét. Sau khi đặt dàn pháo xuống đường, H3 lấy 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ ở trong túi quần, bật lửa đốt pháo rồi lùi lại cách dàn pháo khoảng 01 mét. Sau đó, dàn pháo phát ra nhiều tiếng nổ lớn, phụt lên trời và bùng ra các chùm sáng có nhiều hình thù, nhiều màu sắc khác nhau trong khoảng 01 phút. Khi nghe tiếng pháo nổ ở ngoài đường trước cổng nhà anh T5 thì Nguyễn Tiến D1 đi từ trong sân ra, đứng trước cổng xem và dùng điện thoại quay lại cảnh pháo nổ. Tại thời điểm pháo nổ, trên đường N có nhiều phương tiện ô tô, xe máy đang lưu thông theo nhiều hướng. Sau khi pháo nổ xong, H3 dùng chân đá xác dàn pháo vào sát tường rào nhà anh Nguyễn Văn T5 rồi cùng Nguyễn Tiến D1, Phạm Anh D và T4 tiếp tục đi vào nhà anh T5 ăn uống. Khoảng 05 phút sau thì T4 và H3 đi về nhà.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Tiến D1 nói với Phạm Anh D: “Còn dàn pháo mô nữa không đưa ra nổ cho vui” thì Phạm Anh D trả lời: “Có”. Sau đó, Phạm Anh D tiếp tục đi về nhà lấy 01 (một) dàn pháo hoa nổ loại 36 ống còn lại ở trên ban công tầng 3 rồi đi đến nhà anh T5. Tại sân nhà anh T5, Phạm Anh D bóc giấy bọc bên ngoài dàn pháo để lộ ra dây cháy chậm rồi đưa cho Nguyễn Tiến D1 để nổ. Đến 21 giờ 49 phút cùng ngày, Nguyễn Tiến D1 cầm dàn pháo đi ra phía ngoài cổng nhà anh T5, đặt dàn pháo ở giữa lòng đường Nguyễn Trường T6 đoạn qua nhà anh Nguyễn Văn T5, cách ngã tư đường N giao đường T khoảng 07 mét, cách cổng anh T5 khoảng 03 mét và cách vạch kẻ tim đường khoảng 03 mét rồi lấy 01 (một) chiếc bật lửa ga màu vàng ở trong túi quần châm ngòi đốt dàn pháo. Sau đó, dàn pháo phát ra nhiều tiếng nổ lớn, phụt lên trời và bùng ra các chùm sáng có nhiều hình thù, nhiều màu sắc khác nhau trong khoảng 01 phút. Lúc đó, một số phương tiện ô tô, xe máy lưu thông trên đường qua ngã tư thấy nguy hiểm phải dừng xe lại để tránh.
Ngay sau khi dàn pháo nổ xong, tổ công tác Phòng Cảnh sát Cơ động, Công an tỉnh N có mặt tại hiện trường, đồng thời thông báo cho Công an phường Đ biết để xác minh, làm rõ vụ việc đốt pháo. Qua kiểm tra tại hiện trường, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ:
- 01 (một) khối hình hộp chữa nhật, kích thước khoảng (14,5x14,5x10)cm bên ngoài được bọc giấy có nhiều màu sắc, in hoa văn, chữ nước ngoài bên trong có 36 (ba mươi sáu) ống hình trụ tròn được làm bằng giấy, được liên kết với nhau, có ám muội khói đen được phát hiện, thu giữ tại vị trí giữa làn đường Nguyễn Trường T6 hướng UBND phường Đ, cách trụ cổng bên trái (nhìn từ ngoài vào) nhà số B đường Đ Tộ4,8 mét; cách vạch kẻ ở tim đường 2,8 mét và cách cột đèn tín hiệu giao thông nằm ở làn đường hướng UBND xã H đi lên UBND phường Đ 12 mét.
- 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước khoảng (14,5x14,5x10)cm, bên ngoài được bọc giấy có nhiều màu sắc, in hoa văn chữ nước ngoài, bên trong có 36 (ba mươi sáu) ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, ám muội khói đen được phát hiện, thu giữ tại tường rào nhà số B, đường N cách trụ cổng bên trái (nhìn từ ngoài vào) 2,7 mét, cách vạch kẻ ở tim đường 4,7 mét và cách cột đèn tín hiệu giao thông nằm ở làn đường hướng UBND xã H đi UBND phường Đ, thành phố V, Nghệ An 16 mét.
Cơ quan CSĐT C, Bộ C1 giám định đối với 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 9129/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của V, Bộ C1 kết luận: “Các mẫu vật gửi đến giám định đều là vỏ và ống của hộp pháo nổ (Pháo hoa nổ) đã qua sử dụng. Các hộp pháo nổ (Pháo hoa nổ) này đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất, không phải do Bộ Q1 sản xuất. Khối lượng của từng hộp pháo nổ (pháo hoa nổ) này trước khi nổ nằm trong khoảng từ 1,2kg (Một phẩy hai kilogam) đến 1,4kg (Một phẩy tư kilogam) (Bút lục 153)”.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, Phạm Anh D, Nguyễn Anh T4, Phan Hữu H3 và Nguyễn Tiến D1 đã đến công an phường Đ đầu thú và giao nộp 02 (hai) chiếc bật lửa mà Phan Hữu H3 và Nguyễn Tiến D1 sử dụng để đốt pháo. Tại cơ quan điều tra, Phạm Anh D, Nguyễn Anh T4, Phan Hữu H3 và Nguyễn Tiến D1 đã khai nhận đầy đủ hành vi của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, kích thước khoảng 14,5x14,5x10 (cm), bên ngoài được bọc giấy có nhiều màu sắc, in hoa văn chữ ngước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (Ba mươi sáu) ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, ám muội khói đen (Đã được sử dụng hết trong quá trình giám định). 01 (một) chiếc bật lửa gas, phần thân bằng nhựa màu đỏ, một đầu được bọc kim loại sáng màu, kích thước 08x02x0,8(cm) (Đã qua sử dụng) và 01 (một) chiếc bật lửa gas màu đỏ, bên ngoài bọc giấy màu vàng (Đã qua sử dụng). Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Tại Bản cáo trạng số 68/CT-VKS-TPV ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Phạm Anh D, Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Anh D, Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự, Xử phạt Phạm Anh D từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ, Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phạm Anh D; Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự, Xử phạt Nguyễn Anh T4 từ 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) đến 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự, Xử phạt Nguyễn Tiến D1 từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 10.000.000₫ (Mười triệu đồng); Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự, Xử phạt Phan Hữu H3 từ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) đến 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); Tịch thu tiêu hủy các vật chứng; Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Tiến D1, Phạm Anh D, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào 20 giờ 00 phút, ngày 21/11/2024, tại nhà anh Nguyễn Văn T5 (địa chỉ số B, đường N) Nguyễn Anh T4 đã có hành vi khởi xướng việc đốt pháo thì Phạm Anh D tiếp nhận ý chí của T4 rồi về nhà lấy 01 dàn pháo hoa nổ mang đến nhà anh T5 đưa cho T4. Đến 20 giờ 13 phút, ngày 21/11/2024, tại giữa lòng đường Nguyễn Trường T6, phía trước cổng nhà anh T5, cách ngã tư đường Nguyễn Trường T6 giao đường T 07 mét, cách vạch kẻ tim đường khoảng 03 mét, T4 có hành vi xé giấy bọc bên ngoài dàn pháo để lộ ra dây cháy chậm rồi đưa cho H3 thực hiện hành vi đốt pháo làm phát ra nhiều tiếng nổ lớn và phát ánh sáng nhiều màu khác nhau. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Tiến D1 có hành vi khởi xướng việc đốt pháo, Phạm Anh D đồng ý và tiếp tục về nhà lấy pháo. Đến 21 giờ 49 phút cùng ngày, Phạm Anh D đưa pháo cho Nguyễn Tiến D1 để trực tiếp thực hiện hành vi đốt pháo ngay tại lòng đường Nguyễn Trường T6, phía trước cổng nhà anh T5, cách ngã tư đường Nguyễn Trường T6 giao đường T 07 mét, cách vạch kẻ tim đường khoảng 03 mét làm phát ra nhiều tiếng nổ lớn và phát ánh sáng nhiều màu khác nhau. Sự việc trên xảy ra nơi tập trung đông người, có nhiều phương tiện đang tham gia giao thông đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo Phạm Anh D, Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn; Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và đốt pháo nổ, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi đốt pháo nổ là sai trái nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo Phạm Anh D thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, cả bốn bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện ra đầu thú, thân nhân bị cáo Nguyễn Anh T4 là người có công với cách mạng, thân nhân bị cáo Phạm Anh D có thành tích trong công tác y tế nên cả bốn bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 phạm tội lần này là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Riêng đối với bị cáo Nguyễn Tiến D1 quá trình lao động có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác đối ngoại nhân dân đã được Cơ quan có thẩm quyền tặng Bằng Khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệp hình sự quy định tại điểm v khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Anh T4 quá trình lao động, sinh sống tại địa phương cũng được khen thưởng có thành tích trong phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi được chủ tịch UBND phường Đông Vĩnh tặng Giấy khen nên được hưởng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệp hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, xử bị cáo như mức thấp nhất của vị đại diện viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm, để từ đó bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập: Bị cáo Phạm Anh D có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập và công việc không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[2.4]. Về vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc bật lửa gas, phần thân bằng nhựa màu đỏ, một đầu được bọc kim loại sáng màu, kích thước 08x02x0,8(cm) và 01 (một) chiếc bật lửa gas màu đỏ, bên ngoài bọc giấy màu vàng; Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[2.5]. Đối với người đã bán 02 cối pháo cho Phạm Anh D, do D không biết rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên chưa có đủ cơ sở giải quyết;
[2.6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm Anh D, Nguyễn Tiến D1, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 đều phạm “Tội Gây rối trật tự công cộng”;
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Phạm Anh D 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ; Nhưng được trừ thời gian tạm giữ là 6 ngày (từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024 là bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Anh D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Anh D.
Trường hợp người bị cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cồng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 10.000.000₫ (Mười triệu đồng);
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Hữu H3 10.000.000₫ (Mười triệu đồng);
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 10.000.000₫ (Mười triệu đồng);
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bật lửa gas, phần thân bằng nhựa màu đỏ, một đầu được bọc kim loại sáng màu, kích thước 08x02x0,8(cm) và 01 (một) chiếc bật lửa gas màu đỏ, bên ngoài bọc giấy màu vàng; Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2025/151ngày 27/2/2025.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Tiến D1, Phạm Anh D, Phan Hữu H3, Nguyễn Anh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ PHƯỚC LINH |
Bản án số 120/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 120/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gây rối trật tự công cộng
