Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HS-ST

Ngày: 06-11-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đoàn Thị Thỉnh;
  2. Bà Hồ Thị Lệ Thu.

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2025 tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/HSST-QĐ ngày 29 tháng 9 năm 2025, các thông báo dời ngày xét xử số 21/2025/TB-TA ngày 16 tháng 10 năm 2025 và số 21/2025/TB-TA ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo họ và tên:

Hồ Hoàng Bảo D

tên gọi khác: /; giới tính: Nam; sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng); Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hồ Hoàng H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Diễm V, sinh năm 1980; chưa có vợ con; Tiền án: [1] Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 05/01/2021 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2021, đóng án phí ngày 23/4/2021; [2] Bản án số 487/2023/HS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2, Thành phố Hồ Chí Minh; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Ông Lâm Hoàn L, sinh năm 2003; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long); Nơi ở hiện tại: Căn hộ FP3.006.08, Chung cư M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh) (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Nguyễn Minh T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Áp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Hoàng Bảo D là đối tượng không có việc làm ổn định. Ngày 27/02/2023, D lấy tên Đ sử dụng mạng xã hội Blued tên tài khoản “Ku tins” lên mạng làm quen với anh Lâm Hoàng L1, mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi làm quen với anh L1, D sử dụng zalo tên “Ku tins” số điện thoại 0798.733.xxx kết bạn với anh L1. Sau khi nói chuyện qua lại, D hỏi mượn anh L1 số tiền 500.000 đồng. Anh L1 đồng ý và sử dụng tài khoản số 4221510758721271 ngân hàng S1 chuyển tiền vào tài khoản số 2120112003 chủ tài khoản tên Hồ Hoàng Bảo D ngân hàng V2 cho D mượn. Khoảng 19 giờ ngày 27/02/2023, D tiếp tục nhắn tin qua zalo hỏi anh D mượn một máy tính xách tay hiệu Asus mục đích để chiếm đoạt. Anh L1 đồng ý. D đặt xe G của anh Nguyễn Minh T với cước phí vận chuyển 104.000 đồng đến nhận máy tính xách tay từ anh L1 ở Quận G và giao về siêu thị C trên đường X, thành phố T cho D, số điện thoại 0798.793.xxx. Khi nhận được máy tính anh T giao, D đăng lên mạng xã hội bán cho một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) được 5.000.000 đồng, D tiêu xài cá nhân hết. D liền chặn tài khoản zalo với anh L1. Biết mình bị D lừa đảo, ngày 27/5/2024 anh L1 đến Công an phường T. Qua truy xét Cơ quan Công an lấy lời khai làm rõ xử lý khi D đang chấp hành án tại trại giam T2.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Hồ Hoàng Bảo D thừa nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra D khai cũng với thủ đoạn tương tự, ngày 07/3/2023 và 24/3/2023 Duy thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hữu V1 và anh Phan Thanh N, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, TP . xử phạt 03 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 487/2023/HS-ST ngày 23/11/2023.

Kết luận định giá tài sản số: 162/KL-HĐĐGTTHS ngày 14 tháng 06 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G1 kết luận: 01(một) máy tính xách tay hiệu Asus FX506LI i7 108704/8Gb/4Gb GTX 1650Ti/15.6, đang sử dụng có giá trị là 10.700.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 máy tính xách tay hiệu Asus FX506LI i7 108704/8Gb/4Gb GTX 1650Ti/15.6 (không thu giữ được).

* Về dân sự:

Anh Lâm Hoàng L1 yêu cầu D bồi thường số tiền 10.700.000 (Mười triệu bảy trăm ngàn) đồng theo định giá tài sản chiếc laptop và số tiền mượn 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng, tổng cộng 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng.

Bản Cáo trạng số 39/CT-VKSQ7 ngày 20/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố bị cáo Hồ Hoàng Bảo D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận các hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố;

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng Bảo D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù.
  • Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
  • Về trách nhiệm dân sự: ông Lâm Hoàng L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.700.000 (Mười triệu bảy trăm ngàn) đồng theo định giá tài sản chiếc laptop và số tiền mượn 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng, tổng cộng 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý yêu cầu của ô ông L1 nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng cho ông Lâm Hoàng L1.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Hồ Hoàng Bảo D đã có hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối, cụ thể lấy tên giả là “Đ” để kết bạn Zalo, làm quen và tạo dựng lòng tin với bị hại Lâm Hoàng L1, nhằm chiếm đoạt tài sản. Trên cơ sở đó, bị cáo đã mượn của ông L1 số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn) và một máy tính xách tay hiệu Asus, sau đó bị cáo chặn liên lạc qua Z với bị hại để chiếm đoạt tài sản nêu trên, đem bán và tiêu xài cá nhân.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 162/KL-HĐĐGTTHS ngày 14 tháng 06 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G1 kết luận: “01 (một) máy tính xách tay hiệu Asus FX506LI i7 108704/8Gb/4Gb GTX 1650Ti/15.6, đang sử dụng có giá trị là 10.700.000 đồng”.

Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông Lâm Hoàng L1 là 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét, bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội vì vậy cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm minh nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Hoàng Bảo D đã có tiền án chưa được xóa án tích theo nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lâm Hoàng L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.700.000 (Mười triệu bảy trăm ngàn) đồng theo Kết luận định giá tài sản và số tiền mượn 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng, tổng cộng 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý yêu cầu của ông L1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng cho ông Lâm Hoàng L1.

[7] Xử lý vật chứng vụ án: 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asus FX506LI i7 108704/8Gb/4Gb GTX 1650Ti/15.6 không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng Bảo D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng Bảo D 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 487/2023/HS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh) buộc bị cáo Hồ Hoàng Bảo D phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2023.

2. Căn cứ vào Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; Khoản 2 Điều 468; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Hồ Hoàng Bảo D bồi thường cho ông Lâm Hoàng L1 số tiền 11.200.000 (Mười một triệu hai trăm ngàn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 560.000 (Năm trăm sáu mươi ngàn) đồng.

4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 120/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HỒ HOÀNG BẢO D - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger