|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/10/2025
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Văn Tường
2. Ông Tạ Quang Đức
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, là Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ.
Ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc tranh chấp Ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 428A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1988
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
Bị đơn: bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1991
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn – ông Nguyễn Văn D trình bày: năm 2009 ông và bà Nguyễn Thị K tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng từ tết năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi. Nguyên nhân xuất phát từ bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, không thể khắc phục được. Ông khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà K. Về con chung là Nguyễn Quốc Q (nam) sinh ngày 24/02/2010, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung đều không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị K xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 124/2010 ngày 21/7/2010, là hôn nhân hợp pháp. Ông D có yêu cầu ly hôn, bà K đăng ký thường trú tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ thụ lý vụ án giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà K không đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 15/8/2025, ngày 03/9/2025 nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vào ngày 19/9/2025, ngày 14/10/2025 nhưng bị đơn không đến, vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Ông D yêu cầu ly hôn do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Từ tết năm 2020 bà K bỏ về nhà cha mẹ ruột, vợ chồng ông bà ly thân từ thời gian đó đén nay không còn liên hệ với nhau. Xét mâu thuẫn của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đôi bên không còn thiện chí hàn gắn, hòa giải để đoàn tụ, mục đích hôn nhân là vợ chồng yêu thương, quan tâm, chăm sóc, cùng nhau chung sống tạo dựng hạnh phúc gia đình không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[4] Ông D và bà K có một người con chung là Nguyễn Quốc Q (nam) sinh ngày 24/02/2010 hiện đang ở chung với ông D, cháu Q cũng có nguyên vọng được ở với cha, do đó yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con của ông D là phù hợp. Về tài sản chung và nợ chung, ông D xác định không có, bà K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn D đối với bà Nguyễn Thị Kiều .
- - Về con chung: giao Nguyễn Quốc Q (nam) sinh ngày 24/02/2010 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà K, không ai có quyền ngăn cản.
- - Về tài sản chung, nợ chung: chưa xem xét giải quyết.
- - Án phí hôn nhân sơ thẩm: ông D nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0001536 ngày 30/7/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Liêng Thị Hồng Hoa |
Bản án số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 14/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 120/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Nguyễn Thị K
