Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

huyện P

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện P, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Thế Vinh và bà Mai Thị Toán.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Linh Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng H1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Hoàng H1 sau thời gian tìm hiểu nhau thì tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 25/5/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn M, xã P, huyện P, thành phố H. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc, đến khi chị H sinh con được 5 tháng thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh H1 thường xuyên nhậu nhẹt dẫn đến vợ chồng thường xuyên xích mích, cải vã nhau. Đến giữa năm 2016, chị H đưa con về nhà bố mẹ ở tại thôn T, xã P, huyện P, thành phố H sinh sống thì vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Hiện nay, giữa vợ chồng không còn tình cảm, rất ít khi gặp nhau, không thể hàn gắn được nữa nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.

Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên là Hoàng Thị Vân T, sinh 20/02/2016, hiện nay cháu T đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để bị đơn- anh Hoàng H1 đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh H1 vẫn vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc H, cho chị H được ly hôn với anh Hoàng H1. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung là Hoàng Thị Vân T, sinh 20/02/2016 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn- anh Hoàng H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H1 không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Hoàng H1 chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Xét về quá trình hôn nhân giữa chị H và anh H1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, nguyên nhân là do giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không hợp nhau. Từ giữa năm 2016 cho đến nay, chị H và anh H1 không còn chung sống với nhau. Hiện nay, vợ chồng ít khi gặp nhau, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn. Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như mở phiên tòa lần thứ nhất nhưng anh H1 đều vắng mặt, đã chứng tỏ anh H1 có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Như vậy, vợ chồng chị H, anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H1 là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tại phiên tòa.

[3] Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 người con chung là cháu Hoàng Thị Vân T, sinh 20/02/2016; hiện đang sinh sống cùng chị H. Chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của chị H là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của cháu T, phù hợp với thực tế hiện nay cháu T đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị H trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc H, cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Hoàng H1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Hoàng Thị Vân T, sinh 20/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Hoàng H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn; được khấu hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001956 ngày 04/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND thành phố Huế;

- VKSND huyện P;

- Chi cục THADS huyện P;

- Đương Sự;

- UBND xã Phú Mỹ, huyện P

(ĐKKH số: 45, ngày 25/5/2015);

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện P, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 120/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN huyện P, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger