|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST Ngày 06 - 6 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm
Ông Huỳnh Ngọc Ngươl
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Mỹ N, sinh năm: 1988; Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1987; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Phạm Mỹ N trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:
Về hôn nhân: Năm 2010, chị N và anh Nguyễn Đình T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Chị N xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T.
Về nuôi con chung: Chị N và anh T có 02 người con chung là Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 16/11/2010 và Nguyễn Đình T2, sinh ngày 27/01/2013, đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản và nợ chung: Không có.
Chị N yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Đình T đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Phạm Mỹ N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về hôn nhân: Năm 2010 chị Phạm Mỹ N và anh Nguyễn Đình T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị N trình bày do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, không hợp nhau. Chị N xác định không còn tình cảm và yêu cầu ly hôn với anh T. Về phía anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị N và anh T có 02 người con chung là Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 16/11/2010 và Nguyễn Đình T2, sinh ngày 27/01/2013, đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi hai con. Xét thấy hai cháu Quốc T1 và Đình T2 đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu Quốc T1 và Đình T2 cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
2
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Mỹ N và anh Nguyễn Đình T.
- Về con chung: Giao hai người con chung Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 16/11/2010 và Nguyễn Đình T2, sinh ngày 27/01/2013 cho chị Phạm Mỹ N trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 17/4/2025 chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019412 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |
3
4
Bản án số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 120/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 2010, chị Nh và anh Nguyễn Đình Tr tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Nay chị Nh xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tr.
