Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VỊ THANH

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04 - 6 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Lý Thị Thu Thúy
  • - Bà Phạm Kim Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 100/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Bé P, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Út N, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14/3/2025 và trong quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn chị Võ Thị Bé P trình bày:

Chị Võ Thị Bé P và anh Nguyễn Văn Út N do quen biết và tiến tới kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, huyện L, tỉnh Hậu Giang ngày 15/11/2022 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49/2022. Thời gian đầu hôn nhân vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Út N thường xuyên tụ tập với những thành phần xấu ăn chơi (có lần còn sử dụng ma túy), không lo làm ăn, vợ chồng không hoà hợp, không quan tâm, chăm sóc gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc. Chị và anh Út N đã ly thân nhau từ năm 2023 cho đến nay.

Chị Võ Thị Bé P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Út N.

Về con chung: Quá trình hôn nhân chị P và anh Út N có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/10/2019 (giới tính: Nam) và Nguyễn Gia H, sinh ngày 31/7/2021 (giới tính: Nam). Chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Út N cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Bé P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trước đây không bổ sung, thay đổi gì.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Út N tính từ lúc Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử chưa một lần chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng chưa thể hiện ý kiến bằng văn bản đối với nội dung tranh chấp trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Văn Út N có địa chỉ cư trú tại Ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn Út N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Út N.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Võ Thị Bé P và anh Nguyễn Văn Út N kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của chị P và anh Út N được công nhận là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng không còn hoà hợp, thường xuyên gây gổ, cãi vã. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay hai vợ chồng cũng không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục mối quan hệ hôn nhân. Từ đó cho thấy, hôn nhân của chị P và anh Út N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Út N.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống các đương sự có hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/10/2019 (giới tính: Nam) và Nguyễn Gia H, sinh ngày 31/7/2021 (giới tính: Nam). Chị P có yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, hai cháu hiện nay còn nhỏ, từ khi chị P và anh N ly thân đến nay hai con chung đều sống chung với chị P đã ổn định. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án quyết định giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/10/2019 (giới tính: Nam) và Nguyễn Gia H, sinh ngày 31/7/2021 (giới tính: Nam) cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Đảm bảo quyền được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh N, không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn Út N chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Võ Thị Bé P chưa yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, vì vậy Tòa án không xem xét.

[2.5] Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Võ Thị Bé P. Chị Võ Thị Bé P được ly hôn với anh Nguyễn Văn Út N.
  2. Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Võ Thị Bé P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/10/2019 (giới tính: Nam) và Nguyễn Gia H, sinh ngày 31/7/2021 (giới tính: Nam). Anh Nguyễn Văn Út N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Võ Thị Bé P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001474 ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Vị Thanh;
  • - Cơ quan THADS TP. Vị Thanh;
  • - UBND xã Hoả Lựu;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Đăng Duy

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 120/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa nguyên đơn Võ Thị Bé P và bị đơn Nguyễn Văn Út N.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger