Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/DSPT

Ngày: 23 - 6 - 2025

V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên

Các Thẩm phán: Ông Ung Quang Định

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 46/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 101/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lữ Thượng H, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1977, địa chỉ: Số nhà B, Đường T, khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trương Ngọc Q, sinh năm 1972, địa chỉ: Số nhà B, Đường T, khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1977, địa chỉ: Số nhà B, Đường C, Khu phố F, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
  • - Bà Trần Thị Kim B, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Có mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Thu H1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Lữ Thượng H trình bày:

Ngày 31/7/2022, tại nhà bà P, bà H1 trực tiếp vay của ông số tiền 300.000.000 đồng. Hai bên có lập Hợp đồng vay tiền, bà H1 trực tiếp ký tên, hẹn 01 tháng trả, hai bên có thỏa thuận miệng với nhau tiền lãi theo lãi suất 18.000.000 đồng/300.000.000 đồng/tháng. Đến nay, bà H1 vẫn chưa trả tiền gốc và lãi. Bà H1 vay tiền để đầu tư ghe đi biển, ông Q biết rõ số tiền bà H1 vay, mục đích vay nên đây là nợ chung của ông Q bà H1. Ông H không chấp nhận lời trình bày của bà H1, ông Q về tiền lãi đã trả, lãi suất và số tiền đã trả. Ông H khẳng định chưa nhận của bà H1 tiền lãi, chưa được bà H1 trả tiền gốc nên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông Q bà H1 trả số tiền 300.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất qui định của pháp luật. Ông H không có yêu cầu gì khác.

Theo bản khai, các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn là bà Trần Thị Thu H1 trình bày:

Bà chấp nhận có vay của ông H số tiền 300.000.000 đồng và có ký tên vào Hợp đồng vay tiền ngày 31/7/2022 tại nhà bà P là đúng. Mục đích vay để đầu tư ghe đi biển đánh bắt hải sản và bà có thế chấp một sổ đỏ mang tên bà B. Bà không đồng ý mức lãi suất mà ông H đưa ra, lãi suất hai bên thỏa thuận là 10%/tháng. Tại nhà bà P, ông H, bà P yêu cầu bà đưa trước tiền lãi là 30.000.000 đồng và trả bà P 40.000.000 đồng nên số tiền bà thực nhận chỉ có 230.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận trả góp hàng ngày 10.000.000 đồng/ngày và phải đưa cho bà P chứ không đưa cho ông H. Bà H1 đã góp cho bà P được 07 ngày với số tiền 70.000.000 đồng. Sau đó, tiếp tục góp cho bà P được số tiền 197.000.000 đồng, trong đó có 98.500.000 đồng là trả góp cho ông H còn lại là trả góp cho khoản vay khác mà bà H1 vay của bà P. Bà H1 đã trả lãi 30.000.000 đồng và đã trả góp tiền gốc được 168.500.000 đồng nên hiện chỉ còn nợ ông H số tiền 131.500.000 đồng. Bà H1 chấp nhận trả cho ông H 131.500.000 đồng nhưng xin trả dần và không đồng ý trả lãi vì đã trả lãi xong. Về tiền lãi đã trả bà H1 không có tranh chấp gì. Bà H1 không có yêu cầu gì về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B đã thế chấp cho ông H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Q trình bày: Ông Q thống nhất theo ý kiến của bà H1 đã trình bày. Số tiền còn nợ ông H là nợ chung của vợ chồng ông. Vì hiện nay điều kiện kinh tế khó khăn không trả một lần được nên ông sẽ cùng bà H1 trả dần cho ông H số tiền 131.500.000 đồng còn nợ. Ông Q không có yêu cầu gì về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B mà bà H1 đã thế chấp cho ông H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P trình bày: Việc vay tiền giữa ông H bà H1 như ông H trình bày là đúng. Bà H1 chưa trả lãi cho ông H. Bà H1 đã trả góp cho bà được 07 ngày với số tiền 70.000.000 đồng, sau đó tiếp tục trả góp được 197.000.000 đồng là đúng. Đây là tiền bà H1 trả nợ cho bà vì bà H1 còn nợ tiền bà

chứ không phải trả cho ông H. Bà có giữ sổ đỏ do bà H1 thế chấp cho ông H, bà sẽ trả lại cho ông Q bà H1 sau. Sau khi vay tiền của ông H, bà H1 có trả cho bà 30.000.000 đồng (là tiền bà H1 nợ bà) là đúng. Bà H1 nói bà nhận 40.000.000 đồng là không đúng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà B trình bày: Vì có quan hệ quen biết nên bà có cho ông Q bà H1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Sau khi cho mượn, việc thế chấp vay tiền như thế nào thì bà không biết. Bà B không có yêu cầu gì đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà H1 đã thế chấp cho ông H hiện nay bà P đang giữ.

Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định quyết định:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Lữ Thượng H. Buộc vợ chồng ông Trương Ngọc Q bà Trần Thị Thu H1 phải liên đới trả cho ông Lữ Thượng H số tiền 417.732.600 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: Tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 117.732.600 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 28/3/2025, bị đơn bà Trần Thị Thu H1 kháng cáo không đồng ý phải trả cho ông Lữ Thượng H số tiền 417.732.600 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm đồng); Bà H1 chỉ chấp nhận trả cho ông H 131.500.000 đồng nhưng xin trả dần và không đồng ý trả lãi vì đã trả lãi xong và yêu cầu ông H trả lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi bà trả xong tiền nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Trần Thị Thu H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng đồng thời đề nghị: HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thu H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà Trần Thị Thu H1 trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định, nên xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Trần Thị Thu H1, HĐXX thấy rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận: Ngày 31/7/2022 giữa bà H1 và ông H đã ký kết với nhau bằng giấy có xác nhận chữ ký trong Hợp đồng vay tiền bà H1 trực

tiếp vay của ông H với số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 31/8/2022, có thỏa thuận miệng việc trả lãi; mục đích vay để đầu tư ghe đi biển, làm kinh tế.

Từ đó đến nay, bà H1 chưa trả cho ông H khoản nào tiền gốc và toàn bộ tiền lãi từ ngày vay số tiền 300.000.000 đồng. Nay ông H yêu cầu buộc bà H1 phải trả cho ông số tiền vay 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) và yêu cầu buộc trả tiền lãi từ ngày 31/7/2022 cho đến khi trả xong nợ theo lãi suất do Nhà nước quy định.

Bà H1 cho rằng khi bà vay tiền của ông H, hai bên thỏa thuận lãi suất vay là 10%/tháng, phải trả góp cho bà P hàng ngày 10.000.000 đồng/ngày và bà đã đưa trước tiền lãi là 30.000.000 đồng cho bà P khi nhận tiền gốc vay. Bà H1 đã góp cho bà P được 07 ngày với số tiền 70.000.000 đồng. Sau đó, tiếp tục góp cho bà P được số tiền 197.000.000 đồng, trong đó có 98.500.000 đồng là trả góp cho ông H còn lại là trả góp cho khoản vay khác mà bà H1 vay của bà P. Vợ chồng bà đã trả xong tiền lãi 30.000.000 đồng và đã trả góp tiền gốc được 168.500.000 đồng cho ông H.

Toà án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng bà phải liên đới trả cho ông Lữ Thượng H số tiền 417.732.600 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng) trong đó: Tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 117.732.600 đồng. Bà H1 không đồng ý, bà chỉ chấp nhận trả tiền gốc cho ông H 131.500.000 đồng nhưng xin trả dần nên bà kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại.

HĐXX xét thấy: Bà H1 đã ký Hợp đồng vay tiền ngày 31/7/2022 để vay của ông H số tiền 300.000.000 đồng, bà H1 vay tiền của ông H nhưng lại trả tiền cho bà P, Bà H1 không chứng minh được có thỏa thuận trả góp cho ông H và bà P là người nhận tiền. Khi bà H1 trả góp cho bà P được 70.000.000 đồng và 197.000.000 đồng cũng không có văn bản ghi nhận số tiền đã trả cho khoản vay nào, trả cho ai. Mặt khác, ông Q bà H1 cũng có nợ tiền của bà P nên không có cơ sở để xác định số tiền bà H1 đã trả góp cho bà P là trả nợ cho ông H.

Các bên thống nhất việc bà H1 vay tiền của ông H là vay có lãi nhưng không thống nhất mức lãi suất nên lãi suất được xác định theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 10%/năm. Bà H1 không chứng minh được lãi suất 10%/tháng (tức 120%/năm) và đã trả lãi cho ông H 30.000.000 đồng, ông H cũng không thừa nhận điều này nên không có cơ sở để xử lý về tiền lãi đã trả theo qui định của pháp luật. Bà H1 vay tiền có lãi nên phải trả lãi trên nợ gốc 300.000.000 đồng tương ứng với thời hạn vay từ ngày 31/7/2022 đến ngày 31/8/2022. Bà H1 chậm trả lãi khi đến hạn nên còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc vợ chồng bà H1, ông Q phải trả cho ông H số tiền là 417.732.600 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng) về khoản nợ vay chưa thanh toán. Trong đó nợ gốc là 300.000.000đ; tiền lãi đến 18/3/2025 là 117.732.600 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Nên không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thu H1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

- Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Thu H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toá án.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thu H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 288, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toá án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thu H1, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lữ Thượng H.

Buộc vợ chồng ông Trương Ngọc Q bà Trần Thị Thu H1 phải liên đới trả cho ông Lữ Thượng H số tiền 417.732.600 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: Tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 117.732.600 đồng.

3. Về Án phí: Bà Trần Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007289 ngày 27/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.

4. Các phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,

tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND thị xã Hoài Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã H;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2025/DSPT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 120/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án ST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger