|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS – ST Ngày: 26-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trung Nam
- Ông Trần Ngọc Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đinh Văn T (T1), sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T2, sinh năm 1969 và bà Phan Thị H, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 2 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo có vợ là Võ Thanh T3, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án:
- Ngày 24/9/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 133/2019/HSST.
- Ngày 20/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 134/2021/HSST.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 19/08/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng theo Bản án số 110/2011/HSST.
- Ngày 08/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P) xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 01 năm 06 tháng tại Bản án số 110/2011/HSST ngày 19/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Buộc phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 02 năm tù (nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giam trước đây về tội cố ý gây thương tích từ ngày 24/01/2011 đến ngày 19/04/2011), thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2012 theo Bản án số 02/2013/HSST. Chấp hành án xong ngày 14/3/2014.
- Ngày 26/9/2014, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 193/2014/HSST. Chấp hành án xong ngày 24/5/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P (có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Trí T4, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1968 và bà Đào Thị Đ, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 18/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 131/2021/HS-ST. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 14/6/2022.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Nhật A, sinh năm 1995 (có mặt)
- Ông Trần Gia B, sinh năm 2005 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường H, khu phố N, phường P,thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Nơi cư trú: Số B đường số F, phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Em Trần Yến N1, sinh ngày 29/01/2007 (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của em N1: Ông Trần Văn M, sinh năm 1972 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số B đường H, khu phố N, phường P,thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 2006 (vắng mặt)
- Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn T5, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Văn T và ông Nguyễn Nhật A có mối quan hệ quen biết. T biết Nhật A có chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 72E1-945.34 nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên của Nhật A để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khoảng 13 giờ ngày 01/3/2024, T gọi điện thoại nhờ Nhật A chở T đến nhà nghỉ “Trần Đức”, thuộc khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để thuê phòng nghỉ, Nhật A đồng ý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nhật A điều khiển xe mô tô biển số 72E1-945.34 đi đến khu vực gần ngã 3 M thuộc phường M, thị xã P, để chở T đến nhà nghỉ “Trần Đ1”. Sau khi thuê phòng xong, T nói dối với Nhật A cho T mượn xe mô tô đi tìm phụ nữ bán dâm đưa về khách sạn để quan hệ tình dục với T và Nhật A. Nhật A đồng ý và đưa chìa khóa xe mô tô cho T. Sau khi mượn được xe, T điều khiển về nhà mình tại tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai cất giấu. Đến khoảng 04 giờ ngày 02/3/2024, T gọi điện thoại cho Nguyễn Trí T4 nói T mới chiếm đoạt được chiếc xe mô tô ở thị xã P rồi nhờ T4 cầm cố giúp chiếc xe trên, T4 đồng ý và hẹn T ra quán C thuộc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để giao nhận xe. Khi gặp nhau tại quán C, T nói T4 cầm giúp T chiếc xe trên với số tiền 3.000.000 đồng, T4 đồng ý cầm cho T với giá 2.900.000 đồng. T4 đưa cho T 800.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản vào số tài khoản ngân hàng của T số tiền 1.100.000 đồng, 1.000.000 đồng còn lại Thanh trừ vào số tiền T còn nợ T4. Sau đó, T4 chở T ra Quốc lộ E để đón xe về. Đến khoảng 8 giờ cùng ngày, T4 điều khiển chiếc xe trên đi cầm cố cho H1 (chưa rõ nhân thân lai lịch). Khi đi đến khu vực gần trạm thu phí thuộc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, sợ bị phát hiện nên T4 dừng lại, mở cốp xe lấy tua vít tháo biển số xe vứt ở bãi đất trống gần đó rồi tiếp tục đi cầm cố cho H1 được 2.900.000 đồng. Sau khi nghe được thông tin T bị Cơ quan Công an mời về làm việc, T4 đã liên hệ với H1 để lấy lại chiếc xe mô tô trên và giao nộp cho cơ quan Công an.
Ngoài thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 72E1-945.34 của ông Nhật A tại thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, T còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài, khoảng 11 giờ ngày 28/02/2024, T đi bộ từ nhà đến cửa hàng sửa xe máy của ông Đỗ Văn S. T giả vờ hỏi ông S có ai đang cần bán xe không, T muốn mua 01 xe mô tô dùng để đi lại. Ông S nói với T có ông Trần Gia B đang rao bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển số 69L1-121.77 nhờ S tìm người mua hộ. Sau đó S liên hệ với B nói B đem xe đến để T xem xe. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày B điều khiển xe mô tô trên chạy tới tiệm của S, T xem xe xong thì thỏa thuận mua chiếc xe trên của B với giá 9.500.000 đồng, B đồng ý. Sau đó, T nhờ B điều khiển xe mô tô biển số 69L1-121.77 chở T về nhà để lấy tiền. Khi đến nhà, T xuống xe và đi bộ vào trong nhà giả vờ lấy tiền để tạo lòng tin cho B chứ thực chất trong nhà T không có tiền. Sau đó T đi ra ngoài và nói với B rằng T không đủ tiền nên nhờ B đưa T đến nhà bác của T để mượn tiền, B đồng ý. Sau đó, B giao xe mô tô cho T điều khiển chở B, khi đến đầu đường X thuộc ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, T nói B xuống xe đứng chờ để T chạy vào nhà bác của T mượn tiền. Vì tin tưởng lời T nói nên B đồng ý xuống xe và giao chiếc xe trên cho T. Sau đó T điều khiển xe mô của B bỏ trốn để chiếm đoạt. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô của B đến nhà bạn là Nguyễn Hoàng V chơi. Khi đến nhà V, T thấy có một biển số 60L1-2970 không rõ của ai vứt ở trong vườn nhà của V nên T đã lấy biển số 60L1-2970 gắn lên xe mô tô của B thay cho biển số 69L1-121.77 để tránh bị phát hiện, còn biển số 69L1-121.77 thì T tháo ra và vứt lại trong vườn nhà V rồi điều khiển xe rời đi. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 04/03/2024, T đang điều khiển xe mô tô của anh Trần Gia B đi trên đường thuộc ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thì lực lượng công an đi tuần tra nghi ngờ nên đã mời T về trụ sở làm việc và tạm giữ chiếc xe mô tô trên.
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Đinh Văn T, Nguyễn Trí T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐ.ĐGTS ngày 19/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, UBND thị xã P kết luận: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen - đỏ, biển số 72E1-945.34 (Số máy: JK03E8005886; Số khung: RLHJK0329NY005783). Được người bị hại mua mới vào tháng 01 năm 2024. Tại thời điểm ngày 02/3/2024 tài sản có giá trị là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) (BL 62).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐ.ĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen, số máy: E3X9E239401; Số khung: 3210HY096801 bị chiếm đoạt ngày 28/02/2024 (đã thu hồi được) có giá trị: 7.750.000₫ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) (BL 103).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen - đỏ, biển số 72E1-945.34 cho chủ sở hữu là em Trần Yến N1 (em vợ của Nguyễn Nhật A) theo Quyết định xử lý vật chứng số 506/QĐ ngày 04/4/2024 (BL 83, 84).
- Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai đã trả lại 01 xe mô tô, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen, số máy: E3X9E239401; Số khung: 3210HY096801 cho ông Trần Gia B theo Quyết định xử lý vật chứng số 1131/QĐ ngày 16/5/2024 (BL 160).
- Đối với 01 biển số 60L1-2970 đã chuyển đến Chi Cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ông Nguyễn Nhật A, ông Trần Gia B sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Tại Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Đinh Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trí T4 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo Nguyễn Trí T4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trí T4 từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Do các bị cáo bị tạm giam nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ chiếc biển số xe 60L1-2970 do không còn giá trị sử dụng.
Các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Trí T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố.
Bị hại ông Nguyễn Nhật A và người đại diện theo pháp luật của em N1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các Điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án và tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, tại ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Đinh Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen biển số 69L1-121.77 trị giá 7.750.000 đồng của ông Trần Gia B.
Đến khoảng 15 giờ ngày 01/3/2024, tại nhà nghỉ “T", thuộc khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đinh Văn T dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu đen - đỏ, biển số 72E1-945.34 trị giá 30.000.000 đồng của ông Nguyễn Nhật A.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Đinh Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của các bị hại là 37.750.000 đồng. Tại Bản án số 134/2021/HS-ST ngày 20/10/2021 của Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, hành vi của bị cáo Đinh Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu đen - đỏ, biển số 72E1-945.34 của ông Nhật A, T đã cầm cố cho Nguyễn Trí T4, T4 biết chiếc xe trên do T phạm tội mà có những vẫn đồng ý cầm cố với giá 2.900.000 đồng. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Trí T4 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đinh Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Trí T4 có một tiền án chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật
[5] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn tác động xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương.
Bị cáo Đinh Văn T có nhân thân xấu, có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị cáo từng bị xét xử hai lần về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với cách thức và thủ đoạn tương tự lần phạm tội này. Bị cáo Nguyễn Trí T4 biết rõ tài sản T gửi cầm cố do phạm tội mà có nhưng vẫn nhận lời tiêu thụ tài sản. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu, tiêu huỷ 01 biển số xe 60L1 – 2970 đã cũ do không còn giá trị sử dụng.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trí T4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, xử phạt bị cáo T4 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) biển số xe 60L1 – 2970 đã cũ.
(Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 121/BB-CCTHADS ngày 25/7/2024).
- Về án phí: Buộc các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Trí T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung |
Bản án số 120/2024/HS – ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 120/2024/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Tùng và đồng phạm lừa đảo chiếm đaotj tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
