1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HS-ST
Ngày 30 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Thanh và bà Đoàn Thị Huệ.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn B, sinh năm 1997 tại Hà Nam; Nơi ĐTTT: Tổ 1, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ dân phố N, phường C, thành phố P, tỉnh Hà nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1972; vợ: Lại Hương T, sinh năm 1999; con: có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 13/5/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 19/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1992; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/5/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý phối hợp với Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố Phủ Lý tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ 4, phường L, thành phố P phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự giác giao nộp trong lòng bàn tay phải 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có 05 viên nén hình tròn màu đỏ và khai nhận đó là ma tuý cất giấu để sử dụng, đồng thời khai nhận tên là Bùi Văn B. Lực lượng Công an đã đưa Bách về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
2
Ngày 13/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật, tài sản của Bùi Văn B tại tổ dân phố N, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 344/KL – KTHS, ngày 17/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén hình tròn trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,452g, loại Methamphetamine".
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS-PL ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Bùi Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/5/2024; Bị cáo phạm tội không có tài sản, thu nhập, mục đích phạm tội không trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số ma tuý hoàn trả sau giám định cùng bao gói. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin miễn phạt tiền bổ sung để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội làm người lương thiện.
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
3
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn B đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ để buộc tội:
Khoảng 18 giờ 40 phút, ngày 13/5/2024 tại khu vực tổ 4, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Bùi Văn B đang cất giấu trái phép 0,452 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:
- Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình sâu sắc trong xã hội. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xem xét nhân thân của bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong cộng đồng.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì, không có công việc và thu nhập ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông khoảng 35 tuổi giới thiệu tên T1 là người đã bán ma tuý cho B, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này,
4
ngoài lời khai của B thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
Đối với ma túy và bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/5/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng đã thu giữ:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” số 344/KTHS của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Văn B phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mai Oanh |
5
6
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma túy
