Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày: 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Hồng Thông.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/TLST - HS ngày 15/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, (tên gọi khác: không); sinh ngày 30 tháng 06 năm 1990 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1966; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04/03/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 (chín) năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 12/09/2020 bị công an huyện D ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng vì xâm hại sức khỏe người khác; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/05/2024 đến nay (có mặt).

2. Bị hại: - Chị Luyện Thị T2, sinh năm 1977. (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

- Ông Phạm Thanh T3, sinh năm 1983. (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 5/2024, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Ngọc T đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, Nguyễn Ngọc T rủ người đàn ông tên D (không rõ họ tên địa chỉ): “ta qua bên Đô Thành xem có gì lấy không thì ta lấy về bán kiếm tí đi” thì D đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiển soát) chở T đi đến xã Đ, huyện Y để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà của chị Luyện Thị T2, sinh năm 1977, trú tại xóm X, xã Đ, huyện Y, quan sát thấy trong nhà không có người nên cả TD thống nhất: T đứng phía ngoài để cảnh giới còn D trèo tường rào đi vào nhà tìm tài sản để trộm cắp. Trước khi vào, D nhặt 01 (một) bì xác rắn màu xanh ở trước cổng nhà, sau đó lẻn vào trong nhà chị T2. Dịnh đi đến tủ gỗ đặt trên thềm nhà lấy trộm 01 (một) máy hàn loại máy Hồng Ký 250 A màu xanh ; 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita màu xanh nhạt; 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita màu sữa; 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita, màu xanh đậm và 01 (một) máy khoan gỗ cầm tay, nhãn hiệu Bosh, màu xanh. Dịnh bỏ toàn bộ tài sản trên vào bì xác rắn mang ra xe. Sau đó, D điều khiển xe chở T ngồi sau cầm bì xác rắn chứa tài sản trộm cắp được mang đi bán. Khi đi đến khu vực xã D, huyện D, T bán toàn bộ tài sản trộm cắp trên với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng cho một người phụ nữ đi thu mua phế liệu qua đường( không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản, TD mua ma túy và sử dụng hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện D kết luận:

  • - 01 (một) máy hàn loại máy hàn Hồng Ký loại 250 A, màu xanh, máy đã qua sử dụng có trị giá là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng;
  • - 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita màu xanh nhạt, máy đã qua sử dụng có trị giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng;
  • - 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita, màu sữa, máy đã qua sử dụng có trị giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng;
  • - 01 (một) máy cắt gạch cầm tay (loại máy con chuột), nhãn hiệu Makita, màu xanh đậm, máy đã qua sử dụng có trị giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng;
  • - 01 (một) máy khoan gỗ cầm tay, nhãn hiệu Bosh, màu xanh, máy đã qua sử dụng có trị giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng;

Tổng cộng trị giá tài sản là 2.550.000 (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 09/5/2024, Nguyễn Ngọc T đang ở nhà thì lên cơn nghiện chất ma túy nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, T điều khiển xe mô tô của D đi từ nhà đến xã D, huyện D để tìm tài sản trộm cắp. Khi qua xưởng cơ khí Tuấn D1 của anh Phạm Thanh T3, sinh năm 1983, trú xóm H, xã D, huyện D; T thấy trong xưởng không có người trông coi nên đi vào bên trong xưởng lấy trộm 01 (một) máy cắt nhôm, màu xanh và 01 (một) máy hàn tích, màu xanh. T bê các tài sản trên lên xe rồi đưa đến bãi phế liệu của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1965, trú tại xóm A, xã D, huyện D để bán nhưng chị H không mua. Sau đó, T chuẩn bị rời đi thì gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đến nhập phế liệu bán chiếc máy hàn với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), còn chiếc máy cắt T lấy bì che lại cất giấu tại ven đường gần quán phế liệu. Số tiền có được từ việc trộm cắp, T mua ma túy và sử dụng hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện D kết luận:

  • - 01 (một) máy cắt nhôm, nhãn hiệu JETMAN 2200W, màu xanh, máy đã qua sử dụng có trị giá là 2.000.000 (hai triệu) đồng;
  • - 01 (một) máy hàn tích (hàn inox), RILAND 200S, màu xanh, máy đã qua sử dụng có trị giá là 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng;

Tổng cộng trị giá tài sản là 3.800.000 (ba triệu tám trăm nghìn) đồng.

Ngày 10/5/2024, anh Phạm Thanh T3 đã gửi đơn trình báo về việc bị mất tài sản đến Cơ quan Công an xã D huyện D.

Vào lúc 16 giờ 50 phút, ngày 10/5/2024, Nguyễn Ngọc T đã đến Cơ quan Công an xã D để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình cùng đồng phạm. Cùng ngày, Công an xã D đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự.

Người bị hại chị Luyện Thị T2 yêu cầu nhận lại tài sản( nếu được tìm thấy) hoặc buộc Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Phạm Thanh T3 yêu cầu nhận lại tài sản (nếu

được tìm thấy) hoặc buộc Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 123/CT-VKSDC ngày 11/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T đồng ý bồi thường cho chị Luyện Thị T2 số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và bồi thường cho anh Phạm Thanh T3 số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T với mức án từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự. Buộc bị cáo bồi thường cho chị Luyện Thị T2 số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và bồi thường cho anh Phạm Thanh T3 số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Về việc xử lý vật chứng: không; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại anh Phạm Thanh T3 và chị Luyện Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, Căn cứ vào điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại, lời khai của người chứng kiến, Kết luận định giá tài sản ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/5/2024 đến ngày 09/5/2024, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác, Nguyễn Ngọc T đã thực hiện 02( Hai) vụ trộm cắp tài sản của chị Luyện Thị T2 trú tại xóm X, xã Đ, huyện Y có giá trị tài sản là 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và của anh Phạm Thanh T3, trú xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị tài sản là 22.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Nguyễn Ngọc T chiếm đoạt là 6.350.000 đồng. Vì vậy hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội 2 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy bị cáo đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt. Buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo như đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân

dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tại phiên tòa mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T.

[10] Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T đồng ý bồi thường cho chị Luyện Thị T2 số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và bồi thường cho anh Phạm Thanh T3 số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[12] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

[14] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng D là người cùng với Nguyễn Ngọc T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Luyện Thị T2 vào ngày 04/5/2024 (Theo lời khai của T) do không biết họ tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xác minh, xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 10 tháng 5 năm 2024).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho chị Luyện Thị T2 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và bồi thường cho anh Phạm Thanh T3 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

3. Việc xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử không xem xét

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Diễn Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger