|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương
Ông Nguyễn Văn Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. PXH, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 22/129 Tổ A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; có vợ là F, sinh năm 1982 (đã chết); có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Tại Bản án số 42/HSST ngày 30/7/2020 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/11/2021 chấp hành xong án phạt tù; nhân thân: Bản án số 87/HSST ngày 27/6/2008 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản và Không tố giác tội phạm” (đã xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, chuyển tạm giam ngày 03/01/2024; có mặt.
2. PDT, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1970 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số 10/104 G, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 02 I, phường J, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông K và bà L (đều đã chết); có vợ là M, sinh năm 1974 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 88/2024/HSST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử 39 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng theo Quyết định tạm giam số 95 ngày 10/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng (thời hạn tạm giam 45 ngày kể từ ngày 10/07/2024); có mặt.
Bị hại:
- Ông BH1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số 11/94/263 đường N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị BH2, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn Q, xã R, huyện S, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh NLQ1, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Số 19B/135 đường T, phường T, quận C, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 51 Nam G, phường J, quận C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Chị NLQ2, sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT: Số 7 lô 8 AD, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 51 Nam G, phường J, quận C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Anh NLQ3, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Khu 6, xã U, huyện S, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 18/46 V, phường W, quận X, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Chị NLC1, chị NLC2, anh NLC3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/12/2023 thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát, phòng chống tội phạm trên địa bàn thành phố, Phòng PC02 Công an thành phố Hải Phòng phát hiện tại khu vực đầu ngõ 90 đường Y, quận X, thành phố Hải Phòng có PXH và NLC1, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn Z, xã AA, thị xã AB, tỉnh Hải Dương có biểu hiện nghi vấn phạm pháp nên đã mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, PXH tự khai nhận vào tối ngày 25/12/2023 đã cùng NLC1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 404 khách sạn AC ở chân cầu AD, địa chỉ số 56/01 đường AE, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng.
Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hải Phòng tiến hành bàn giao đối tượng PXH để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp nhận người phạm tội ra tự thú.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, PXH tự khai nhận như sau: Vào khoảng 21giờ 30 phút ngày 25/12/2023 PXH một mình đi tới đường tàu AF mua 350.000 đồng ma tuý đá của 01 người nam giới không quen biết để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, PXH một mình điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B4 - 422.73 tới khu vực cầu vượt Nam G, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng để gặp và đón NLC2, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm AG, xã AH, huyện AI, thành phố Hải Phòng tới thuê phòng tại nhà nghỉ AC để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại phòng 404 nhà nghỉ AC, PXH đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm ống tẩu thủy tinh gắn vào chai nước có sẵn trong phòng), sau đó PXH sử dụng điện thoại di động nhắn tin rủ NLC1 tới cùng sử dụng ma túy. Một lúc sau NLC1 đến phòng 404 và ngồi trên giường cùng PXH, NLC2 ngồi ở ghế tự châm lửa hút ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Trong khi sử dụng ma túy, PXH tiếp tục sử dụng điện thoại di động liên lạc rủ NLC3, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn AJ, xã AK, huyện AL, thành phố Hải Phòng lên phòng 404 nhà nghỉ AC để sử dụng ma túy và đón NLC2 về, NLC3 đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 19 phút ngày 26/12/2023 NLC3 đến, khi NLC3 đang đứng ở cửa phòng 404 thì có chị AM, sinh năm 1985; nơi cư trú: đường AN, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng, là nhân viên nhà nghỉ đứng ở hành lang yêu cầu thanh toán tiền phòng nên PXH trả cho chị AM 350.000 đồng tiền thuê phòng. Sau đó, NLC3 và NLC2 thấy phòng bên cạnh đang mở cửa, không có người thuê nên NLC3, NLC2 mang theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy “đá” của PXH sang (không nói cho chị AM biết) và sử dụng nốt số ma túy trong ống tẩu thủy tinh bằng hình thức tự châm lửa hút, sử dụng ma túy xong thì vứt bộ dụng cụ sử dụng ma túy đi rồi về. Đến khoảng 02 giờ ngày 26/12/2023, PXH và NLC1 trả phòng đi về, khi cả hai đến đường Y, phường AO, quận X, thành phố Hải Phòng thì gặp lực lượng Công an tuần tra nghi vấn mời về trụ sở để làm việc như đã nêu trên.
Theo Kết luận giám định số 1083/KL - KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: “Mẫu nước tiểu của PXH gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và MDMA; Mẫu nước tiểu ghi tên NLC1 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine”.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của PXH 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15B4 - 422.73 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Samsung đã qua sử dụng có số IMEI 1 là 358592100458631, IMEI 2 là 358592100458631. Qua xác minh chiếc xe mô tô Honda biển kiểm soát 15B4 - 422.73 PXH sử dụng để đưa đón NLC2, NLC1 tới nhà nghỉ AC là xe mô tô của PXH sở hữu, mua và đăng ký sử dụng từ tháng 04/2023. Giám định số khung, số máy xe là nguyên thủy, không sửa chữa, tẩy xóa.
Thu giữ của NLC1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1 là 866538055294104, IMEI 2 là 866538055294112.
Tuy nhiên, sau đó PXH thay đổi lời khai, không thừa nhận các hành vi nêu trên, PXH khai không phải là người mang ma túy và bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tại phòng 404. Nguồn gốc ma túy là do NLC2 mang đến và bỏ ra cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tại phòng 404 PXH cũng không mời ai sử dụng mà thấy NLC2 tự sử dụng, NLC2 gọi điện thoại rủ NLC1 đến nhà nghỉ và mời NLC1 cùng sử dụng ma túy bằng hình thức châm lửa cho NLC1 hút. PXH cũng không thanh toán tiền phòng nghỉ.
Tại Cơ quan điều tra NLC2 khai: Ngày 25/12/2023 khi đang ở nhà thì được PXH liên lạc rủ tới khu vực Cầu vượt Nam G, PXH đón đi sử dụng ma túy, NLC2 đồng ý. Sau đó NLC2 đi xe taxi đến khu vực Cầu vượt Nam G, phường J, quận C, thành phố Hải Phòng hết 120.000 đồng thì PXH tới đón trả tiền Taxi và chở tới nhà nghỉ AC để cùng sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy NLC2 không đóng góp tiền hay vật chất gì, không mời ai sử dụng ma túy. NLC1, NLC3 khai: Ngày 25/12/2023 được PXH nhắn tin, gọi điện rủ tới phòng 404 nhà nghỉ AC để sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy NLC1 và NLC3 không đóng góp tiền hay vật chất gì, không mời ai sử dụng ma túy.
Lời khai của NLC2, NLC1, NLC3 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được. Cơ quan điều tra tiến hành cho NLC2 và PXH đối chất, PXH không thừa nhận việc mang ma túy và bộ coóng đến nhà nghỉ AC, mà do NLC2 tự mang đến. NLC2 khai trước đó PXH rủ NLC2 đến nhà nghỉ để sử dụng ma túy và có cho NLC2 xem số ma túy mà PXH đã mua được, ma túy và coóng là do PXH mang đến nhà nghỉ AC.
Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra xác định ngoài hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/12/2023, PXH còn có hành vi cùng PDT, AQ thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Rạng sáng ngày 03/10/2023, PXH tới nhà PDT rủ PDT cùng đi lang thang trên các tuyến phố Hải Phòng để trộm cắp tài sản, PDT đồng ý rồi vào nhà lấy chiếc xe môtô Dream mang biển kiểm soát 34N7 - 9465 ra đưa cho PXH lái, PDT ngồi sau. Khoảng hơn 02 giờ cùng ngày, khi cả hai vào trong ngõ 263 N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng thì phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô ba bánh tự chế màu trắng bạc, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái của ông BH1, sinh năm 1968, nơi cư trú: Số 11/94/263 đường N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng đang để ở trước cửa số nhà 53/263 N không có người trông coi nên thống nhất cùng nhau lấy trộm chiếc xe này. PDT đứng trước cửa nhà 48C/263 N, Hải Phòng trông xe máy và cảnh giới để PXH vào đưa chiếc xe ra. PXH đưa chiếc xe ra đến khu vực PDT đợi thì PXH ngồi lên ghế lái xe còn PDT đi bộ đẩy từ phía sau để xe ra hướng ngoài đường N. Sau đó, PXH đấu dây điện nổ máy được xe mô tô ba bánh thì PDT quay lại lấy xe máy Dream rồi cả hai mang chiếc xe ba bánh về cất giấu ở sân nhà PXH. Khoảng đầu tháng 11/2023, PXH bán chiếc xe ba bánh trộm cắp được cho NLQ1 (sinh năm 1980 và vợ là NLQ2, sinh năm 1976) cùng cư trú tại số 51 Nam G, khu AP, phường J, quận C, thành phố Hải Phòng được 9.000.000 đồng. PXH chia cho PDT 4.500.000 đồng từ việc bán xe. Đối với chiếc xe ba bánh trên, sau đó NLQ1 đã bán lại cho NLQ3, sinh năm 1991; nơi cư trú: khu 6, xã U, huyện S, thành phố Hải Phòng. Ngày 27/12/2023, biết chiếc xe là tài sản do PXH trộm cắp, NLQ1 và NLQ3 đã mang chiếc xe ba bánh tới giao nộp cho cơ quan điều tra.
Vụ thứ 2: Khoảng 03 giờ ngày 12/12/2023, PXH cùng AQ đi lang thang khắp các tuyến phố trong Hải Phòng để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực ngõ 200 đường AR, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng thì phát hiện thấy chiếc Honda Vario của chị BH2, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn Q, xã R, huyện S, thành phố Hải Phòng đang đỗ ở trước cửa nhà số 12/200 AR không có người trông coi. Cả hai đỗ xe máy tại khu vực đầu ngõ số 02/200 AR để quan sát một lúc thấy không có người qua lại thì PXH và AQ tiến tới ngồi lên xe dùng tay, chân bẻ tay lái xe để mở khóa cổ chiếc xe Honda Vario. Sau khi mở khóa cổ, PXH dắt xe ra còn AQ sử dụng xe máy đi theo phía sau đẩy chiếc xe Vario về đến đầu ngõ 206 đường AS, quận P, thành phố Hải Phòng thì dừng lại. Sau đó AQ mang xe Vario vào sân khu tập thể nhà AQ cất giấu. Khoảng 3 đến 5 ngày sau, AQ và PXH mang chiếc xe máy Vario đi sửa khóa rồi PXH mang bán xe cho một người tên AT (chưa rõ lai lịch) ở AU, phường W, quận X, thành phố Hải Phòng được 6.500.000 đồng. Số tiền này PXH ăn tiêu hết chưa chia lại tiền cho AQ. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra đã áp dụng các biện pháp truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được chiếc xe Vario nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 24/KL - HĐĐGTS ngày 30/05/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận:
“01 xe mô tô ba bánh màu bạc đã qua sử dụng, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh, sản xuất tại Việt Nam có giá 17.300.000 (mười bảy triệu ba trăm nghìn) đồng vào thời điểm tháng 10 năm 2023.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 đã qua sử dụng màu sơn bạc đen, biển số đăng ký 15H1 – 453.19, số khung MH1KF4119JK337773, số máy KF41E 1338632, sản xuất năm 2018, đăng ký năm 2022 có giá 34.800.000 (ba mươi tư triệu tám trăm nghìn ) đồng vào thời điểm tháng 12 năm 2023”.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo PXH và PDT khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai bị hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng thu giữ được. Đối với AQ, ngày 26/01/2024 làm việc tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, AQ đã thừa nhận toàn bộ hành vi cùng PXH đi trộm cắp tài sản. NLQ3 hành nhận dạng, kết quả AQ nhận ra PXH là người cùng thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 và tự nguyện nộp 17.000.000 đồng khắc phục hậu quả, sau đó bỏ trốn. Căn cứ tài liệu điều tra ngày 18/07/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng ra Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh truy nã đối với AQ về hành vi Trộm cắp tài sản (chiếc xe Vario ở trước cửa nhà số 12/200 AR) theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, NLC3 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng 01 xe mô tô ba bánh tự chế màu xanh, không mang biển kiểm soát, có thùng phía sau. NLC3 khai nhận đây là chiếc xe NLC3 mua của PXH. PXH khai chiếc xe này là do PXH mua của một người không nhớ tên tuổi địa chỉ (ở khu vực AV, AL). Qua giám định xe có số máy LX163ML*VC115211* là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm đồ vật nhưng chưa có thông tin chủ sở hữu của chiếc xe.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông BH1 và chị BH2 yêu cầu PXH, PDT phải bồi thường theo quy định pháp luật. Hiện các bị cáo chưa bồi thường.
Vật chứng của vụ án:
- + 01 (một) xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh;
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda AiBlade màu đen mang BKS 15B4 - 422.73 (đã qua sử dụng) của PXH;
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung có số IMEI 1: 358592100458631, IMEI 2: 358592100458631 đã qua sử dụng của PXH (bị vỡ kính lưng);
- + Số tiền 17 triệu đồng AQ tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra. Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
- - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1 là 866538055294104, IMEI 2 là 866538055294112 tạm giữ của NLC1 và tiến hành giám định, thu thập chứng cứ xong. Tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của NLC1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho NLC1 nên không xem xét giải quyết.
Tại Bản Cáo trạng số 93/CT-VKSHB ngày 19/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo PXH về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo PDT về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, PXH đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào tối ngày 25/12/2023 tại phòng 404 nhà nghỉ AC, địa chỉ số 56/01 đường AE, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng, tổ chức cho NLC2, NLC1 và NLC3 sử dụng trái phép chất ma túy. PXH cùng PDT đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản ngày 03/10/2023 như nội dung trên. Ngoài ra PXH còn khai và thừa nhận cùng AQ trộm cắp 01 chiếc xe môtô Honda Vario BKS 15H1 – 453.19 có trị giá 34.800.000 đồng của chị BH2 tại khu vực trước cửa nhà số 12/200 đường AR, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng thu giữ được, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, Bản Kết luận giám định ma túy, Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo PXH với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo PXH với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17,58; Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo PDT với mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 88/2024/HSST ngày 10/7/2024 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử 39 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành là 54 đến 57 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda AiBlade màu đen mang BKS 15B4 - 422.73 (đã qua sử dụng) của PXH là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023;
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung có số IMEI 1: 358592100458631, IMEI 2: 358592100458631 đã qua sử dụng của PXH (bị vỡ kính lưng) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023;
- - Trả lại cho ông BH1 01 (một) xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh;
- + Số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng AQ tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra, do hiện tại AQ đang bỏ trốn và bị truy nã nên cần trả lại cho Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng để giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1 là 866538055294104, IMEI 2 là 866538055294112 tạm giữ của NLC1 và tiến hành giám định, thu thập chứng cứ xong. Tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của NLC1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho NLC1 nên không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo PXH phải bồi thường thiệt hại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 có trị giá 34.800.000 đồng cho bị hại chị BH2.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh NLQ1, chị NLC2 và anh NLQ3 không yêu cầu các bị cáo PXH, PDT phải trả lại số tiền đã mua chiếc xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh với giá 9.000.000 đồng, sau này anh NLQ1 bán lại cho anh NLQ3 25.000.000 đồng, anh NLQ3 không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo PXH và PDT phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo PXH phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:
- [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
[3] Bị hại anh BH1, chị BH2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh NLQ1, chị NLQ2 và anh NLQ3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Các bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của họ. Xét thấy bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293, 296 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về tội danh, các tình tiết của vụ án:
[4] Tại phiên tòa, các bị cáo PXH và PDT đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, các bản Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/12/2023 tại phòng 404 nhà nghỉ AC, địa chỉ số 56/01 đường AE, phường H, quận C, thành phố Hải Phòng, PXH có hành vi tổ chức cho NLC2, NLC1 và NLC3 sử dụng trái phép chất ma túy.
Trước đó, vào ngày 03/10/2023, PXH cùng PDT trộm cắp 01chiếc xe môtô ba bánh màu bạc trị giá 17.300.000 đồng của ông BH1 tại khu vực trước cửa số nhà 53/263 đường N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Ngày 12/12/2023, PXH cùng AQ trộm cắp 01 chiếc xe môtô Honda Vario BKS 15H1 – 453.19 có trị giá 34.800.000 đồng của chị BH2 tại khu vực trước cửa nhà số 12/200 đường AR, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Tại thời điểm thực hiện hành vi (từ ngày 03/10/2023 đến ngày 26/12/2023), các bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của PXH đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Điều 255 và “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật Hình sự. PDT đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4.1] Bị cáo PXH có hành vi tổ chức cho NLC2, NLC1 và NLC3 sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/12/2023 (điểm b: Đối với hai người trở lên) khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Ngoài hành vi trên, trước đó ngày 03/10/2023, PXH cùng PDT trộm cắp 01 chiếc xe môtô ba bánh màu bạc trị giá 17.300.000 đồng của ông BH1 tại khu vực trước cửa số nhà 53/263 đường N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Ngày 12/12/2023, PXH cùng AQ trộm cắp 01 chiếc xe môtô Honda Vario BKS 15H1 – 453.19 có trị giá 34.800.000 đồng của chị BH2 tại khu vực trước cửa nhà số 12/200 đường AR, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Tổng cộng trị giá bị cáo chiếm đoạt là 52.100.000 (năm mươi hai triệu một trăm nghìn) đồng (điểm c: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Bị cáo PDT, ngày 03/10/2023 cùng PXH trộm cắp 01 chiếc xe môtô ba bánh màu bạc trị giá 17.300.000 đồng của ông BH1 tại khu vực trước cửa số nhà 53/263 đường N, phường O, quận P, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trong đó bị cáo PXH với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác. Hành vi của các bị cáo PXH và PDT trong việc trộm cắp tài sản không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.
- Xét về nhân thân của các bị cáo:
[6] Bị cáo PXH có 02 tiền án: Tại Bản án số 42/HSST ngày 30/7/2020 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 16/11/2021 chấp hành xong án phạt tù (chưa được xóa án tích); tại Bản án số 87/HSST ngày 27/6/2008 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản và Không tố giác tội phạm (đã xóa án tích) cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt, không từ bỏ con đường phạm tội. Bị cáo PDT trước khi thực hiện hành vi cùng PXH trộm cắp tài sản ngày 03/10/2023 chưa có tiền án, tiền sự; tuy nhiên về nhân thân. Tại Bản án số 88/2024/HSST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử 39 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, nên cần phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, không có ý thức chấp hành pháp luật.
- Xét vai trò của các bị cáo và hình phạt:
[7] PXH trong hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023 là độc lập không có vai trò đồng phạm, một mình thực hiện việc Tổ chức sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác như cung cấp ma túy, dùng xe máy của mình đi đón đối tượng nghiện, thuê địa điểm, dùng điện thoại chủ động mời gọi các đối tượng đến cùng sử dụng.
[7.1] PXH và PDT đồng phạm giản đơn trong việc trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe môtô ba bánh màu ngày 03/10/2023, trong hành vi này PXH là người khởi xướng rủ rê PDT cùng đi trộm cắp, là người vào lấy xe, sau đó trực tiếp đấu dây điện để nổ máy và mang xe về nhà mình cất giấu, tự giao dịch bán xe được 9.000.000 đồng chia nhau ăn tiêu. Đối với PDT tham gia tích cực như đồng ý với đề xuất của PXH, đứng ngoài cảnh giới để PXH vào dắt và đưa xe ra ngoài, đi bộ đẩy xe từ phía sau cho PXH để đem xe cất giấu và cùng được hưởng lợi từ việc bán xe mà PXH chia cho số tiền là 4.500.000 đồng.
[7.2] Ngoài hành vi trên, khoảng 03 giờ ngày 12/12/2023 theo lời khai PXH cùng AQ đồng phạm cùng tham gia trộm cắp chiếc xe môtô Honda Vario của chị BH2, cụ thể khi thấy không có người qua lại PXH và AQ tiến tới ngồi lên xe dùng tay, chân bẻ tay lái để mở khóa cổ chiếc xe Honda Vario. Sau khi mở khóa cổ, PXH dắt xe ra còn AQ sử dụng xe máy đi theo phía sau đẩy về đến đầu ngõ 206 đường AS, quận P, thành phố Hải Phòng thì dừng lại. Sau đó AQ mang xe vào sân khu tập thể nhà AQ cất giấu. Khoảng 3 đến 5 ngày sau, AQ và PXH mang xe đi sửa khóa rồi PXH trực tiếp bán xe cho một người tên AT (chưa rõ lai lịch) ở AU, phường W, quận X, thành phố Hải Phòng được 6.500.000 đồng. Số tiền này PXH ăn tiêu hết chưa chia lại tiền cho AQ, hiện nay AQ đang bỏ trốn và đang bị truy nã.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[8] Trong vụ án này, ngày 26/12/2023 PXH thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì trước đó, trong các ngày 03/10/2023 và ngày 12/12/2023 đã cùng đồng bọn thực hiện 02 hành vi Trộm cắp tài sản. Nhân thân có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” là “phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo PDT không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[9] Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, vì vậy được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo PXH, sau khi phạm tội đã chủ động ra tự thú về hành vi phạm tội, bị cáo có bố được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì vì vậy được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[10] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
[10.1] Đối với PXH có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án (chưa được xóa án tích) nên cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật, không từ bỏ con đường phạm tội; đồng phạm trong hành vi trộm cắp tài sản ngày 03/10/2023 như tham gia giữ vai trò chính, khởi xướng, rủ rê PDT để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo mức án nghiêm, cao hơn bị cáo PDT và áp dụng hình phạt tù có thời, bắt bị cáo phải tiếp tục chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[10.2] Đối với bị cáo PDT trong vụ án này về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên cần phải đánh giá sau khi cùng PXH có hành vi trộm cắp tài sản ngày 03/10/2023; ngày 26/12/2023 đã cùng đồng bọn Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị đưa ra xét xử ngày 10/7/2024 với mức án 39 tháng tù giam; hành vi trộm cắp tài sản cùng với PXH hưởng ứng nhiệt tình, tham gia giữ vai trò giúp sức, cùng được ăn chia nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 17,58 của Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo mức án nghiêm và áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải tiếp tục chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[11] Căn cứ biên bản hỏi cung và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, đều là đối tượng nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[12] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda AiBlade màu đen mang BKS 15B4 - 422.73 (đã qua sử dụng) của PXH là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023;
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung có số IMEI 1: 358592100458631, IMEI 2: 358592100458631 đã qua sử dụng của PXH (bị vỡ kính lưng) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023;
- Trả lại cho Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng AQ tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra. (Theo biên lai thu tiền số 0002693 ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- Trả lại cho ông BH1 01 (một) xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1 là 866538055294104, IMEI 2 là 866538055294112 tạm giữ của NLC1 và tiến hành giám định, thu thập chứng cứ xong. Tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của NLC1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho NLC1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo PXH phải bồi thường thiệt hại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 có trị giá 34.800.000 đồng cho bị hại chị BH2.
[14] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh NLQ1, chị NLQ2 và anh NLQ3 tại biên bản làm việc ngày 13/9/2024 tại Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng không yêu cầu các bị cáo PXH, PDT phải trả lại số tiền đã mua chiếc xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh với giá 9.000.000 đồng, sau này anh NLQ1 bán lại cho anh NLQ3 25.000.000 đồng, anh NLQ3 không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[15] Các bị cáo PXH và PDT mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo PXH phải nộp 1.740.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[16] Các bị cáo PXH và PDT được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Trong vụ án này:
[17] Đối với NLC2, NLC1, NLC3 là người được sử dụng ma túy tại phòng 404 nhà nghỉ AC không phải đóng góp gì, không được bàn bạc thống nhất từ trước và không mời ai cùng sử dụng ma túy. Tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ khởi tố NLC2, NLC1 và NLC3 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với NLC2, NLC1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Hiện NLC3 vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[18] Đối với người nam giới bán ma túy cho PXH tài liệu điều tra chưa xác định được là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
[19] Đối với chiếc xe môtô Dream mang biển kiểm soát 34N7 - 9465 PDT và PXH sử dụng để đi trộm cắp tài sản, ngày 26/12/2023 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng trong quá trình kiểm tra hành chính, phát hiện tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã thu giữ được chiếc xe trên tại nhà của PDT ở số 02 AW, Nam G, phường J, quận C, Hải Phòng. Quá trình điều tra xác định được biển kiểm soát 34N7 – 9465 (là chiếc biển số thật), qua giám định có số khung C100MN - 0105294, số máy C100MNE - 0105294 là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, tuy nhiên trong hồ sơ đăng ký xe có biển số là 29K8 – 8545. Qua xác minh chủ sở hữu xe là ông AX (đã chết năm 2022, hiện không có thông tin về người thân thích). PDT khai nhận mua chiếc xe này từ cửa hàng sắt vụn của một người không quen biết, khi mua xe không có biển số nên PDT đã gắn chiếc biển số 34N7 – 9465 vào xe để đi lại. Do chưa xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục tách ra làm rõ, xử lý sau.
[20] Đối với chiếc xe mô tô ba bánh màu xanh không biển kiểm soát, có thùng phía sau do NLC3 giao nộp cho cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này đồng thời NLC3 hiện đang vắng mặt tại địa phương, không ghi được lời khai của NLC3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[21] Đối với người nam giới tên AT ở khu vực AU, W, X, Hải Phòng mua lại từ PXH chiếc xe môtô Honda Vario biển kiểm soát 15H1 – 453.19, tài liệu điều tra chưa xác định được là ai, ở đâu nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[22] Đối với NLQ1 và NLQ3 đã mua bán chiếc xe môtô 3 bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh, nhưng NLQ1, NLQ3 không biết chiếc xe này là tài sản do PXH trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[23] Đối với anh AY và chị AM là nhân viên nhà nghỉ AC cho thuê phòng 404 và thu tiền phòng nhưng hoàn toàn không biết việc PXH, NLC2, NLC1 và NLC3 sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo PXH phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: PXH 08 (tám) năm tù.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo PXH phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: PXH 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo PDT phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: PDT 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp Bản án số 88/2024/HSST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 39 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023 (trong một vụ án khác).
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự,
Buộc bị cáo PXH phải bồi thường thiệt hại cho bị hại chị BH2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 có trị giá 34.800.000 (Ba mươi tư triệu, tám trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda AiBlade màu đen mang BKS 15B4 - 422.73 (đã qua sử dụng) của PXH là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung có số IMEI 1: 358592100458631, IMEI 2: 358592100458631 (đã qua sử dụng) của PXH (bị vỡ kính lưng) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/12/2023. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- Trả lại cho Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng AQ tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra. (Theo biên lai thu tiền số 0002693 ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- Trả lại cho ông BH1 01 (một) xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1 là 866538055294104, IMEI 2 là 866538055294112 tạm giữ của NLC1 và tiến hành giám định, thu thập chứng cứ xong. Tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của NLC1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho NLC1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo PXH phải bồi thường thiệt hại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 có trị giá 34.800.000 đồng cho bị hại chị BH2.
[14] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh NLQ1, chị NLQ2 và anh NLQ3 tại biên bản làm việc ngày 13/9/2024 tại Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng không yêu cầu các bị cáo PXH, PDT phải trả lại số tiền đã mua chiếc xe môtô ba bánh màu bạc không biển kiểm soát, có thùng phía sau bằng inox, có mái che phần ghế lái, dán đề can HTX Thương Binh với giá 9.000.000 đồng, sau này anh NLQ1 bán lại cho anh NLQ3 25.000.000 đồng, anh NLQ3 không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[15] Các bị cáo PXH và PDT mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo PXH phải nộp 1.740.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo PXH và PDT được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại: Anh BH1 và chị BH2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh NLQ1, chị NLQ2, anh NLQ3 được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |
16
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" và tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" và tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
