|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-PT Ngày 12/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hiền; Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 12/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2005; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo không biết bố là ai; mẹ: Trần Thị T1; vợ, con: chưa có; nhân thân: không; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Bà Nguyễn Thị H -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Vắng mặt).
* Trong vụ án còn có 4 bị cáo khác và một số người tham gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Nguyễn Đức H1, sinh ngày 27/01/2006 và Dương Văn L, sinh ngày 01/7/2006 đều trú tại thôn A, xã H, huyện H có mâu thuẫn nên ngày 22/4/2023, H1 và L hẹn nhau đến cổng Công ty S1 thuộc xã T, huyện H để giải quyết mâu thuẫn. H1 gọi điện cho Nguyễn Tiến D, sinh ngày 09/01/2006, trú tại thôn T, xã H, huyện H (thường gọi là Dũng M) và Trần Hồng A, sinh ngày 25/3/2005, trú tại thôn B, xã H, huyện H tối đi cùng đến điểm hẹn để đánh L, D và Hồng A đồng ý. Sau khi nhận lời giúp H1, trưa ngày 22/4/2023, D “Mơ” nhắn tin lên nhóm Facebook “Hội Phù Đ” với nội dung “tối anh em nào rảnh đến Công ty S1 để đánh nhau” các thành viên trong nhóm nhận được tin nhắn gồm: Nguyễn Văn L1, sinh ngày 03/10/2005, trú tại thôn N, xã N, huyện H; N, sinh ngày 14/6/2005, trú tại thôn T, xã H, huyện H; Dương Thành L2, sinh ngày 12/11/2006, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H; D, sinh ngày 25/9/2005, trú tại thôn H, xã H, huyện H; L, sinh ngày 18/9/2006, trú tại thôn T, xã H, huyện H; Đ, sinh ngày 15/12/2005, trú tại thôn N, xã H, huyện H; L, sinh ngày 11/4/2006, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H; T, sinh ngày 04/01/2006, trú tại thôn T, xã H, huyện H; Nguyễn Minh N, sinh ngày 24/10/2005, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H; D, sinh ngày 24/9/2005, trú tại thôn N, xã H, huyện H;T, sinh ngày 01/3/2006, trú tại thôn N, xã H, huyện H;
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Diêm Đức T2 đi xe mô tô biển kiểm soát 98G1-108.44 đón D “Mơ”. Trên đường đi gặp Nguyễn Văn L1 lái xe chở Ngụy Văn S mang theo 02 con dao phóng lợn (01 con dao có đầu nhọn, được hàn cán kim loại dài khoảng 1,5 mét, 01 con dao không có đầu nhọn được hàn cán kim loại dài 2,4 mét). S đưa cho D “Mơ” một con dao phóng lợn rồi cùng nhau đến cổng Công ty S1. Trên đường đi gặp Trần Văn H2, sinh ngày 03/8/2007, trú tại thôn T, xã H, huyện H nên H2 cũng đi theo cùng. Khi đến cổng Công ty S1 gặp Lương Hữu M1, S đưa dao phóng lợn cho M1 cầm.Sau khi được Nguyễn Đức H1 nhờ đi giải quyết mâu thuẫn, Trần Hồng A rủ Nguyễn Thế T3, sinh ngày 17/7/2008; Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/01/2006, cùng trú tại thôn B, xã H, huyện H nên T3 đến đón Hồng A rồi cùng nhau đón D1 và bảo D1 mang theo hung khí. D1 mang theo 01 thanh kiếm dài 61.5cm cùng đi đến cổng Công ty S1. Trên đường đi, Nguyễn Văn D1 nhắn tin rủ Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 29/12/2005, trú tại thôn H, xã H, huyện H đến cổng Công ty S1 đánh nhau thì Đ1 đồng ý. Đ1 rủ thêm Nguyễn Văn D1, sinh năm 2005, trú tại thôn B, xã H, huyện H đi cùng đến cổng Công ty S1 nhập vào nhóm.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Đức H1 đang đi đến chỗ hẹn thì gặp Nguyễn Văn T4, sinh ngày 24/12/2006, trú tại thôn B, xã H, huyện H. H1 rủ T4 đi cùng thì T4 đồng ý đi và nhập vào nhóm D1 “Mơ”. Sau khi nhận được tin nhắn của D1 “Mơ” trên nhóm “Hội Phù Đổng”, Dương Thành L2 đã rủ Thân Đức H3, sinh ngày 26/11/2007, trú tại thôn N, xã H, huyện H; Nguyễn Minh Q, sinh ngày 07/11/2006, trú tại thôn H, xã H, huyện H; Dương Ngô L3 đã rủ Thân Đức L4, sinh ngày 01/3/2006, trú tại thôn N, xã H, huyện H đi đến Công ty S1 nhập vào nhóm. Khi cả nhóm đang đứng tập trung tại cổng Công ty S1 thì
2
Nguyễn Mạnh H4, sinh ngày 13/8/2007, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H; H, sinh ngày 23/02/2007, trú tại thôn N, xã N, huyện H; Dương Tuấn D2, sinh ngày 25/6/2007, trú tại thôn B, xã H, huyện H; Nguyễn Xuân C, sinh ngày 07/7/2008, trú tại thôn B, xã H, huyện H; Nguyễn Văn V, sinh ngày 25/01/2006 và Nguyễn Tiến T5, sinh ngày 22/7/2006, cùng trú tại thôn T, xã H, huyện H đi đến cổng Công ty Suntech chơi, gặp nhóm D2 “Mơ” đã nhập vào nhóm. Trần Văn T, sinh ngày 12/02/2005, trú tại thôn C, xã L, huyện H điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T4, sinh ngày 11/01/2005, trú tại thôn A, xã H, huyện H đi qua nhóm D2 “Mơ” rồi tiếp tục đi đón Ngô Sỹ H5, sinh ngày 21/8/2005, trú tại thôn A, xã H, huyện H. Nhóm D2 “Mơ” chờ khoảng 15 phút tại cổng Công ty S1 không thấy L đến nên cùng nhau sử dụng xe mô tô đi đến thị trấn T, huyện H. Riêng Nguyễn Đức H1 không tham gia mà đi về trước, còn Nguyễn Văn T4 (2006) đi cùng nhóm đến thị trấn T rồi cũng đi về trước.
Tại thị trấn T, nhóm D2 “Mơ” gặp Nguyễn Văn H6, sinh ngày 15/11/2005, trú tại thôn B, xã H, huyện H; Trần Mạnh T6, sinh ngày 16/7/2004, trú tại thôn B, xã H, huyện H; Nguyễn Minh H7, sinh ngày 20/10/2005, trú tại thôn H, xã H, huyện H và Kiều Anh Đ2, sinh ngày 26/11/2007, trú tại thôn T, xã H, huyện H. Thấy trong nhóm D2 “Mơ” có người quen nên Nguyễn Văn H6, Trần Mạnh T6, Nguyễn Minh H7 và Kiều Anh Đ2 nhập vào nhóm rồi cùng đi đến khu vực cầu C, xã L. Sau khi đón Ngô Sỹ H5, Trần Văn T chở Nguyễn Văn T4 và Ngô Sỹ H5 đến thị trấn T gặp Lưu Văn H8, sinh ngày 19/8/2005, trú tại thôn S, xã L, huyện H và Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 10/10/2006, trú tại thôn Đ, xã N, huyện T nhập thành một nhóm rồi cùng nhau đi đến khu vực cầu C, xã L gặp nhóm của D2 "Mo".
Khoảng 20 giờ 30 phút, Trần Văn H9, sinh năm 2004; Trần Nguyên H10, sinh năm 2004; Trần Văn T7, sinh năm 2004, cùng trú tại tổ dân phố S, thị trấn T; Chu Văn H11, sinh năm 2003, trú tại thôn C, xã L; T, sinh ngày 23/2/2005, trú tại thôn C, xã L, huyện H; N, sinh ngày 11/9/2005, trú tại thôn C, xã X, huyện H cùng nhau đi chơi thì gặp Hà Quang T8, sinh ngày 16/12/2005, trú tại thôn Đ, xã L, huyện H; H, sinh ngày 16/12/2007, trú tại thôn T, xã H, huyện H; Nguyễn Huy H12, sinh ngày 21/10/2004, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T tại khu vực cổng trường Trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp huyện H. Một lúc sau Văn Hữu T9, sinh ngày 22/8/2005; Trần Văn K, sinh ngày 10/6/2005, cùng trú tại tổ dân phố V, thị trấn T và Hoàng Văn H13, sinh ngày 16/7/2005, trú tại tổ dân phố S, thị trấn T đi đến. Cả nhóm rủ nhau đi quanh thị trấn T đến khu vực bãi rác gần cầu C, xã L thì gặp nhóm D2 “Mơ” đang tập trung thì nhập vào nhóm.
Đến khoảng 21giờ, D2 “Mơ” rủ mọi người đi sang T chơi, tất cả đồng ý. Khi đi qua khu vực Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện H thì gặp Nguyễn Thế P, sinh ngày 25/6/2004, trú tại tổ dân phố S, thị trấn T, huyện H đang đứng tại đây nên P cũng tham gia đi cùng, cả nhóm đi xe mô tô chở từ hai đến ba người, có mang theo hung khí là dao, kiếm cụ thể: Nguyễn Văn L1 điều khiển
3
xe mô tô Honda Wave màu đỏ, gắn biển kiểm soát: 98D1-810.58 chở theo Nguyễn Tiến D và Ngụy Văn S cầm theo một con dao phóng lợn. Trần Nguyên H10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, gắn biển kiểm soát 98D1 - 885.91 chở Chu Văn H11 và Trần Văn H14. Hoàng Văn H13 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, gắn biển kiểm soát 98D1-843.31 chở theo Hà Quang T8 và Nguyễn Huy H12.Trần Văn T điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, gắn biển kiểm soát 98E1 - 772.15 chở Nguyễn Văn T4 (2005) và Ngô Sỹ H5. Trần Văn H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, gắn biển kiểm soát 98D1-232.79 chở theo Ngô Đức M2. Lưu Văn H8 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển đăng ký 98H1 - 388.46 chở theo Nguyễn Văn Q1. Trần Hồng A, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, gắn biển kiểm soát 98D1 - 612.53 chở theo Nguyễn Thế T3 và Nguyễn Văn D1 (2006) cầm theo một thanh kiếm. Nguyễn Minh N điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu đen (không rõ biển kiểm soát) chở theo Đoàn Thế D3 và Lương Hữu M1 cầm theo 01 con dao phóng lợn. Diêm Đức T2 điều khiển xe mô nhãn hiệu Honda Wave, màu cam, gắn biển kiểm soát 98G1 - 108.44 chở theo Nguyễn Văn V. Nguyễn Mạnh H4 điều khiển xe Honda Wave, màu đen - bạc, biển kiểm soát 98D1 - 732.08 chở theo Hoàng Văn T10 và Nguyễn Tiến T5. Dương Ngô L3 điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 98D1 - 447.17 chở Thân Đức L4. Dương Thành L2 điều khiển H15 - Wave, màu sơn xanh, gắn biển kiểm soát: 98D1 - 911.35 chở theo Thân Đức H3 và Nguyễn Minh Q. Dương Tuấn D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, gắn biển kiểm soát 29H1 - 833.69 chở theo Vũ Xuân C1. Trần Văn H2 điều khiển xe dán nhãn Detech, biển kiểm soát 98AC - 041.72 chở theo Thân Đức Q2 và Lê Việt H16. Kiều Anh Đ2 điều khiển xe Honda Wave, màu xanh đen bạc, gắn biển kiểm soát 98D1 - 829.20 chở Nguyễn Minh H7 và Nguyễn Thế P đến khu vực xã V, huyện T sau khi dừng lại chụp ảnh thì một số người đổi xe. Hoàng Đức T11 chuyển sang lái xe chở Nguyễn Minh H7 và Trần Văn T7. Đ2 và P chuyển sang đi xe của người khác nhưng không nhớ ngồi xe của ai điều khiển. Văn Hữu T9 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu đen chở theo Trần Văn K. Trần Mạnh T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 98D1 - 888.29 chở theo Nguyễn Văn H6. Nguyễn Văn D1 (2005) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 98D1 - 160.18 chở theo Nguyễn Văn Đ1.
Khi cả nhóm đi đến thị trấn T thì Trần Mạnh T6, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn D1 (2005), Nguyễn Văn H6 đi về trước, nhóm người còn lại tiếp tục đi về xã N, huyện T. Khi đi các đối tượng đều không đội mũ bảo hiểm, đi xe thành đoàn dài với tốc độ khoảng 50 - 60km/h.
Đi đến cánh đồng thôn Đ, xã V, huyện T cả nhóm dừng lại chụp ảnh. Lúc này, Trần Văn H2 chuyển sang lái xe chở Thân Đức Q2 và Lê Việt H16 bỏ về trước. Hoàng Đức T11 chuyển sang điều khiển xe của Nguyễn Minh H7, chở H7
4
và Trần Văn T7. Lương Hữu M1 đưa dao phóng lợn cho Đoàn Thế D3, khi đi đến xã N, huyện T, Đoàn Thế D3 rủ Lương Hữu M1 và Nguyễn Minh N về trước. Trước khi về, Đoàn Thế D3 bảo D3 “Mơ” đưa dao phóng lợn cầm về thì D3 “Mơ” đưa 01 con dao phóng lợn cho D3 cầm, N chở Đoàn Thế D3 và M1 về trước. Còn lại những người trong nhóm tiếp tục đi về hướng huyện T. Khoảng 21h30 phút cùng ngày, cả nhóm đi đến khu vực cây xăng xã N, huyện T. Lúc này, anh Hoàng Xuân Lâm P1, sinh ngày 21/01/2005, trú tại thôn S, xã N, huyện T đang đứng chơi cùng một số người bạn gồm: Nguyễn Mạnh H17, sinh năm 1992, Nguyễn Anh Q3, sinh năm 2001, cùng trú tại thôn L, xã N, huyện T; Nguyễn Văn Q4, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã N, huyện T; Hoàng Quang C2, sinh năm 2001; Nguyễn Duy L5, sinh năm 2001 cùng trú tại thôn H, xã N tại khu vực trước cửa hàng sửa chữa xe của nhà ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1969, trú tại thôn L, xã N, huyện T, thấy nhóm thanh niên huyện H đi qua, anh P1 đứng nhìn theo.
Khi đi qua cây xăng xã N, nhóm D3 “Mơ” có người bảo quay lại (không xác định được ai nói) thì một số xe quay lại, dừng xe trước cửa nhà ông L6. Hoàng Văn H13 trong nhóm D3 “Mơ” nói với nhóm thanh niên trước của nhà ông L6 “đánh nhau không” thì không ai nói gì. Sau đó, H10 chở Chu Văn H11 và Trần Văn H14 đi đến, nhìn thấy anh P1, H11 không nói gì, tự nhảy xuống xe chạy đến giằng kiếm trên tay Ngô Sỹ H5 rồi lao vào đuổi đánh anh P1 và những người chơi ở cửa nhà ông L6. Thấy H11 đuổi anh P1, Trần Văn T chạy vào nhặt chiếc chổi cán gỗ dài 1,05 mét để trước của nhà ông L6, Trần Văn T7 cũng lao vào giằng kiếm từ tay Chu Văn H11, Nguyễn Huy H12 nhặt chiếc hót rác kim loại để trước cửa nhà ông L6, Hà Quang T8, Trần Văn H14 (không cầm hung khí) cùng H12 đuổi theo anh P1 mục đích để đánh. Thấy các đối tượng đuổi đánh, anh Q4, C2, Q3, L5 chạy vào trong nhà ông L6 đóng cửa lại, còn anh H17 và anh P1 ở ngoài cửa do cửa đóng không vào nhà được. Anh P1 bỏ chạy về phía cây xăng xã N thì Chu H11, Huy H12, T, T7, T8 và H14 chạy đuổi theo khoảng hơn 20 mét. Anh P1 chạy xuống cánh đồng nên nhóm của H12 không đuổi kịp thì quay lại khu vực trước cửa nhà ông L6. T7 đưa trả kiếm cho H5, T và Nguyễn Huy H12 để chổi, hót rác lại khu vực cửa nhà ông L6 rồi cả nhóm lên xe đi về. Cùng lúc này, tổ công tác của Công an xã N đi tuần tra đến, lập biên bản vụ việc, các đối tượng đi xe bỏ chạy, còn Nguyễn Mạnh H4 và Hoàng Văn T10 được đưa về trụ sở làm việc.
Đối với Đoàn Thế D3, Nguyễn Minh N, Lương Hữu M1 cầm 02 con dao phóng lợn đi về trước không tham gia đuổi đánh nhau, khi đi về qua thôn T, xã V, huyện T đã cất giấu 02 con dao phóng lợn tại nhà bỏ hoang trước khu vực cổng Trường THCS xã V rồi đi về.
Ngày 23/4/2023, Công an xã N đã lập biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra sự việc tại trước cửa nhà ông Nguyễn Văn L6, thu giữ 01(một) chiếc chổi (loại chổi chít) cán gỗ hình trụ dài 105cm, đường kính 2,5cm (Chổi cũ, đã qua sử dụng).
5
Ngày 25/4/2023, UBND xã N đã có công văn đề nghị; ông Nguyễn Văn L7, sinh năm 1975, Trưởng thôn Làng Sai, xã N, huyện T, ông Nguyễn Văn L6 thôn L, xã N có đơn đề nghị Công an huyện T xử lý nghiêm minh nhóm thanh niên nêu trên về hành vi gây rối trật tự công cộng, gây hoang mang cho người dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Anh Hoàng Xuân Lâm P1 đề nghị xử lý nghiêm hành vi của các đối tượng đuổi đánh mình ngày 22/4/2023.
Cùng ngày, Công an xã N đã chuyển tin báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 07/6/2023, ông Nguyễn Văn L6 giao nộp 01 đĩa CD lưu dữ liệu camera trước cửa nhà ông L6; anh Đào Quang P2 - cán bộ Công an huyện T giao nộp 01 đĩa CD, lưu dữ liệu Camera an ninh tại Cây xăng N.
Ngày 08/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 119/QĐ-CQĐT trưng cầu phòng K1 Công an tỉnh B giám định dữ liệu điện tử trong 01 đĩa CD nhãn hiệu Maxell, màu vàng có lưu 01 file video có tên “videol.mp4" có dung lượng 15969Kb và 01 đĩa CD nhãn hiệu Maxell, màu vàng có lưu 01 file video có tên “Cây xăng Ngọc V1 2.mp4" có dung lượng 37589Kb nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 1146/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Xác định hình ảnh trong các file video gửi giám định không bị cắt ghép chỉnh sửa và trích xuất được 18 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01(một) thanh kiếm kim loại tổng chiều dài 61,5cm, chuôi gỗ màu đen dài 19cm, được quấn ba vòng kim loại màu vàng, phần lưỡi kim loại đầu nhọn, có một lưỡi sắc dài 42.5cm, đã bị hoen ri, phần rộng nhất của lưỡi kiếm là 4cm do Trần Văn T giao nộp. 01(một) hót rác bằng kim loại, màu nâu đỏ, kích thước chiều dài 31 cm, rộng 32cm, cao 10cm (hót rác cũ đã qua sử dụng bị han gỉ và bám dính đất) do ông Nguyễn Văn L6 giao nộp. Đoàn Thế D3 đã giao nộp 01(một) con dao phóng lợn làm bằng kim loại có một lưỡi sắc dài 34cm, bản dao rộng 6cm (không có đầu nhọn) được hàn cán bằng ống kim loại đường kính 2,1cm, dài 2,4mét.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho các bị cáo và các đối tượng liên quan xác định hình ảnh của từng người trích xuất qua camera, xác định vị trí từng đối tượng qua bản ảnh trích xuất camera. Kết quả phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi liên quan và người làm chứng.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai: Giữa các bị cáo và nhóm của anh P1 không có mâu thuẫn gì từ trước, các bị cáo cho rằng khi đi qua thấy nhóm của anh P1 đứng chơi ở cửa nhà ông L6 nhìn đểu nên Chu Văn H11 tự nhảy xuống xe chạy đến giằng kiếm trên tay Ngô Sỹ H5 rồi lao vào đuổi đánh anh P1. Thấy Hoàng đuổi thì Trần Văn T cũng chạy vào nhặt chiếc chổi cán gỗ, Trần Văn T7
6
cũng lao vào giằng kiếm từ tay Chu Văn H11, Nguyễn Huy H12 nhặt chiếc hót rác kim loại, Hà Quang T8, Trần Văn H14 (không cầm hung khí) cũng đuổi theo mục đích để đánh anh P1 nhưng không đuổi kịp nên chưa đánh được anh P1.
* Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 4 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 26/3/2024, bị cáo Hà Quang T8 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 22/4/2024, bị cáo Hà Quang T8 đã có đơn xin rút kháng cáo. Tòa án đã ban hành Thông báo về việc rút kháng cáo đối với bị cáo T8. Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hà Quang T8 đã có hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/4/2024, bị cáo Lê Văn T12 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo và trình bày: Bản án sơ thẩm xử như vậy là đúng người đúng tội nhưng phạt tù giam bị cáo là nặng. Bị cáo có hành cảnh khó khăn, bị cáo không có bố, mẹ bị cáo bị thiểu năng bỏ nhà đi không sống chung cùng bị cáo, bị cáo sống với bà ngoại ốm đau bệnh tật, đã trên 70 tuổi nuôi sống bản thân bằng nghề thu nhặt rác thải, bị cáo là lao động chính phải nuôi em gái cũng không biết bố là ai. Bị cáo còn trẻ, nhận thức việc làm của mình là sai, ân hận về hành vi của mình đã thực hiện. Tháng 3/2024 bị cáo tham gia ủng hộ quỹ hỗ trợ xóa nhà tạm nhà dột nát hộ nghèo và hộ cận nghèo, bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội ở nhà chăm sóc bà và nuôi em ăn học.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo T12. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm 11/2024/HS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 năm 01 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo T cho UBND xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
7
- Bị cáo T không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với vật chứng đã thu được. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/4/2023, khi nhóm của Chu Văn H11 đi xe mô tô qua cửa nhà ông Nguyễn Văn L6, trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang thì thấy nhóm của anh Hoàng Xuân Lâm P1 đang đứng chơi tại đó, cho rằng bị nhìn đểu nên Chu Văn H11, Trần Văn T7, Trần Văn T, Nguyễn Huy H12 đã có hành vi cầm hung khí (kiếm, chổi cán gỗ và hót rác bằng kim loại); Trần Văn H14, Hà Quang T8 (không cầm theo gì) cùng nhau đuổi mục đích để đánh nhóm anh P1 nhưng không đuổi kịp.
Như vậy bị cáo T cùng các bị cáo khác bị cáo cầm hung khí, tham gia đuổi anh P1 trên đường đã gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm mất an toàn xã hội, gây hoang mang, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân. Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến nếp sống bình thường của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điểu khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai.
Tại phiên tòa, bị cáo xin hưởng án treo nên các vấn đề khác của án sơ thẩm đã tuyên về tội danh, điều luật áp dụng, phạt bổ sung. Án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo Hội đồng xét xử thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện, xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 năm 01 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo T xuất trình thêm tài liệu chứng cứ, tháng 3/2024 bị cáo tham gia ủng hộ quỹ hỗ trợ xóa nhà tạm nhà dột nát hộ nghèo và hộ cận nghèo, quá trình sống ở địa phương xác nhận là công dân chấp hành tốt các chính sách pháp luật, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không biết bố là ai, mẹ bị cáo bị bệnh thiểu năng, không có sự chăm sóc của mẹ từ nhỏ, bị cáo phải lao động kiếm tiền nuôi bà ngoại trên 70 tuổi và 1 em gái
8
còn nhỏ. Do vậy, áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với T.
Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Trong vụ án bị cáo có cầm cán chổi đuổi đánh anh P1 nhưng không đuổi đánh được ai và không gây thương tích cho ai, có vai trò thứ yếu trong vụ án, bị cáo mới tròn 18 tuổi, phạm tội do thiếu hiểu biết, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt phạt bị cáo Trần Văn T 02 năm 01 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, phù hợp với quy định pháp luật.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xử:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết
9
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
10
Bản án số 120/2024/HS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 120/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thanh - Vi phạm giao thông đường bộ
