TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 24/10/2024. “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/10/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ – sinh năm 1964 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
*Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N – sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H - Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/7/2024 cũng như lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Đ trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn N tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung vợ chồng từ năm 1992 đến năm 1997 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà riêng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông N thường xuyên xúc phạm bà, khi nhậu say là kiếm cớ đánh đập bà nhiều lần, cả hai không tìm được tiếng nói chung, hiện tại mạnh ai nấy sống không quan tâm đến nhau nữa, nhận thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc và không thể kéo dài, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng là yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Về con: Vợ chồng 03 con : Nguyễn Văn V – sinh năm 1996, Nguyễn Thị M – sinh năm 1993 và Nguyễn Thị B – sinh năm 1992 đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết, về nợ và tài sản không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt nên không có trình bày gì.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Văn N để tống đạt văn bản tố tụng, nhưng ông Nguyễn Văn N không đến Tòa án huyện để tham gia phiên Tòa. Do đó, vụ án giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Nguyễn Văn N không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt chứng tỏ ông đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn N.
1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/9/2024 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.
2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của bà Trần Thị Đ thì bà và ông Nguyễn Văn N sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Thị Đ khai nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do ông N thường xuyên xúc phạm bà, khi nhậu say là kiếm cớ đánh đập bà nhiều lần, cả hai không tìm được tiếng nói chung, hiện tại mạnh ai nấy sống không quan tâm đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập ông Nguyễn Văn N nhiều lần nhưng ông N cố tình vắng mặt chứng tỏ không có thiện chí để đoàn tụ gia đình. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Văn N rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Đ.
3. Về con chung: Các con đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
4. Về tài sản và nợ: Bà Trần Thị Đ không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị Đ – sinh năm 1964 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Đ đối với ông Nguyễn Văn N. Bà Trần Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
- Về án phí: Bà Trần Thị Đ – sinh năm 1964 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị Đ có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Văn N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
