Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/5/2024

V/v: "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Long

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hòa P; sinh năm: 1991. (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
  • - Bị đơn: Anh Phan Văn T; sinh năm: 1982. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 14/8/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hòa P trình bày:

* Về quan hệ vợ chồng:

Chị với anh Phan Văn T kết hôn vào năm 2017, do tự nguyện tìm hiểu thông qua mai mối, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương, đăng ký kết hôn ngày 17/7/2017 tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về sống chung nhà với cha mẹ chồng tại thôn G, xã C, huyện P trong khoảng thời gian ngăn. Do chị là người tật nguyền (bị bại liệt chân phải) và đang công tác tại bộ phận văn thư, lưu trữ của Trường tiểu học S1, huyện P nên việc đi lại khó khăn. Khi đang mang thai, cha mẹ chị xin cha mẹ chồng và anh T đưa chị về lại nhà cha mẹ chị ở thôn P, xã C để thuận lợi cho việc đi làm và chuẩn bị cho việc sinh con. Cha mẹ chồng và anh T đồng ý. Từ đó, chị về bên nhà cha mẹ mình sống, làm việc; còn anh T đi lại giữa hai bên gia đình. Đời sống hôn nhân của vợ chồng chị hạnh phúc bình thường trong khoảng thời gian ngắn. Sau khi chị sinh con thì giữa chị và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ đời sống kinh tế vợ chồng khó khăn; anh T thường xuyên có hành vi bạo hành gia đình. Cả chị và anh T đều là người tật nguyền, hạn chế khả năng lao động, thu nhập, nhưng anh T cho rằng tiền bạc làm ra phải đưa anh cất giữ. Trong thời gian sống chung, chị luôn bị anh bạo hành về tình dục và tinh thần. Anh thường xuyên mắng chửi, xúc phạm chị một cách vô cớ. Thậm chí, nhiều lần anh T dùng dao đe dọa giết chị vì những nguyên nhân xích mích nhỏ nhặt trong đời sống chung. Không chịu đựng được lối sống bạo hành của anh T, từ tháng 10/2018 đến nay chị chủ động sống ly thân với anh T.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mức độ mâu thuẫn giữa chị và anh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

* Về quan hệ con chung:

Giữa chị và anh T có 01 người con chung là cháu Phan Ngọc Thảo M; sinh ngày 23/4/2018. Hiện nay, sức khỏe, thể chất của cháu M đang phát triển bình thường, cháu đang được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao M cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

* Về quan hệ tài sản:

Tài sản chung của vợ chồng chị không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn anh Phan Văn T đã được Tòa án thông qua chính quyền địa phương tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Phan Văn P1 (cha ruột của anh T) nhận thay và cam kết giao lại cho anh T. Mặc dù biết rõ hiện nay Toà án đang thụ lý, giải quyết việc chị P khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng anh T cố ý lẩn tránh, không đến Tòa án để tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án là đúng theo qui định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Phan Văn T cố ý lẩn tránh, không đến Tòa án tham gia tố tụng thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.

Về hướng giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình - 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị P được ly hôn với anh T. Về con chung: giao cháu Phan Ngọc Thảo M; sinh ngày 23/4/2018 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn do đương sự không có yêu cầu

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Xét về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Phan Văn T nhiều lần được Tòa án tống đạt trực tiếp Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Q đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác do ông P1 (cha anh T) nhận thay, cam kết giao lại cho anh T để anh đến Tòa án thực hiện quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Mặc dù biết rõ Toà án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu ly hôn của chị P, nhưng bị đơn cố ý lẩn tránh không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Bị đơn anh Phan Văn T phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hòa P với anh Phan Văn T kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Ngày 17/7/2017 chị P và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Tại thời điểm đăng kí kết hôn, cả chị P và anh T đều đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thẩm quyền đăng ký kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại các Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014, Điều 17, Điều 18 Luật hộ tịch - 2014. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị P, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng: Là vợ chồng, lẽ ra anh T và chị P phải có thái độ tôn trọng nhau, thương yêu, chung thủy, chăm sóc lẫn nhau và cùng nhau chia sẻ, gánh vác công việc chung để xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, theo nguyên đơn chị P trình bày, sau khi kết hôn, đời sống hôn nhân giữa chị và anh T chỉ thực sự hạnh phúc bình thường khoảng thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh T thường xuyên có hành vi bạo hành gia đình. Từ tháng 10/2018 đến nay chị và anh T sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Trong gia đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác và nhiều lần triệu tập anh T đến Toà án tham gia tố tụng. Mặc dù biết rõ việc chị P khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Toà án, nhưng anh T không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhiều lần cố ý lẩn tránh, không hợp tác với Toà án; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và có thái độ bỏ mặc. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ để kết luận: quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

[2.3] Về quan hệ con chung: Giữa chị P với anh T có 01 người con chung chưa thành niên là cháu Phan Ngọc Thảo M; sinh ngày 23/4/2018. Hiện tại sức khỏe, thể chất của cháu M đang phát triển bình thường, cháu đang được chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị P yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M; không yêu cầu Toà án giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Xét yêu cầu việc nuôi con của chị P, HĐXX thấy rằng: từ khi chị và anh T sống ly thân mỗi người một nơi, cháu M do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù không được anh T quan tâm, chia sẻ nhưng chị P vẫn đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Hiện nay chị P có việc làm, có thu nhập ổn định nên việc giao cháu M cho chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn các đương sự không có tranh chấp nên Toà án không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên HĐXX cũng không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3] Án phí DSST: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV, chị Nguyễn Thị Hòa P phải chịu án phí ly hôn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, khoản 2 Điều 227, các Điều 264, 266, 273, 280 của BLTTDS;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm – 2014;

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khoá XIV.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hòa P về việc yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hòa P được ly hôn với anh Phan Văn T.
    2. Về quan hệ con chung:

      - Chị Nguyễn Thị Hòa P được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Ngọc Thảo M; sinh ngày 23/4/2018; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn các đương sự không tranh chấp nên Toà án không xem xét, giải quyết.

      Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở;

      Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Hòa P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006642 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hòa P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng anh Phan Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - THA DS huyện Phù Cát;
  • - UBND xã Cát Khánh, huyện Phù Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Hòa P - Phan Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger