TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HC-ST
Ngày: 11-7-2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Phan Ngọc Rỹ
Ông Nguyễn Thanh Nhật
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Lê Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 78/2024/TLST-HC ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-HC ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Trần Văn N, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ B, khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh M, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T - Phó chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài T1 - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.
(Ông M có mặt, ông T, ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện có nội dung như sau:
Ông Trần Văn N yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 590986 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn N vào ngày 26/8/2010 đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.967m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An).
Lý do khởi kiện: Thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, ông N được cấp quyền sử dụng diện tích 1.967m² nhưng diện tích đất thực tế qua đo đạc là 2.896,6m² tăng so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 929,6m². Do đó ông N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận nêu trên.
Tại Văn bản số 1939/UBND-NC ngày 15/04/2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C trình bày có nội dung:
Việc Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận cho ông Trần Văn N đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn C, huyện C là đúng theo quy định pháp luật, căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Trần Văn T2 cho ông Trần Văn N vào năm 2010.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết vụ án trên theo quy định của pháp luật. Sau khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, Ủy ban nhân dân huyện C sẽ tổ chức thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận cho ông Trần Văn N đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.967m², tọa lạc tại khu phố T, thị trấn C, huyện C là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Trần Văn T2 cho ông Trần Văn N vào năm 2010. Thực tế ông N đang sử dụng theo mảnh trích đo bản đồ địa chính ngày 24/06/2024 của Công ty Đ thì thửa đất 1220 có tổng diện tích là 2.896,6m², tăng 929,6m² so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn N yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 590986 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn N vào ngày 26/8/2010 đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.967m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 10/2023, ông N có nhờ địa chính huyện C đo đạc lại thì phát hiện diện tích thực tế tăng so với trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Nên ngày 22/02/2024 ông N nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
[4] Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C ông Huỳnh Minh T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Nguyễn Hoài T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông T1 là phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Ngày 26/8/2010, Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận cho ông Trần Văn N đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.967m², tọa lạc tại khu phố T, thị trấn C, huyện C là căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn T2 cho ông Trần Văn N vào năm 2010 là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.
Tuy nhiên, khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn N, Ủy ban nhân dân huyện K thực hiện kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình, hiện trạng, vị trí, diện tích sử dụng đất là có sai sót.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện thửa 1220, tờ bản đồ số 3 do ông Trần Văn N quản lý sử dụng trên phần đất có 02 cái ao, có 10 cây dừa và một số cỏ dại mọc, phía bắc giáp đường đan 3,7m, phía đông giáp đường đan 2,5m, phía nam giáp đường đan 1,5m. Diện tích thực tế theo mảnh trích đo bản đồ địa chính ngày 24/06/2024 của Công ty Đ1 2.896,6m², tăng 929,6m² so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Như vậy Ủy ban nhân dân huyện C khi cấp giấy chứng nhận cho ông Trần Văn N đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không tiến hành kiểm tra, đo đạc diện tích đất thực tế sử dụng dẫn đến việc cấp diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất 1220 ít hơn hơn diện tích thực tế sử dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N, là trái quy định tại Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 20.000.000 đồng. Ông Trần Văn N đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Căn cứ Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC590986 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn N vào ngày 26/8/2010 đối với thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.967m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Nay là khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An).
Ông Trần Văn N được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện nhiệm vụ, công vụ xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn N theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn N chịu 20.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, ông N đã nộp xong.
Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lương Minh Trí |
Bản án số 120/2024/HC-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 120/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Ngà "Khiếu kiện quyết định hành chính" Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc
