Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/DS-PT

Ngày 07-5-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền,

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, yêu cầu trả lại giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ký

Ông Trần Nam Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 99/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 293/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952

Địa chỉ: số nhà E, tổ H, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Ông T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1979.

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1981.

Cùng địa chỉ: số nhà E, tổ H, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Và bà Trần Thị L1, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tổ G, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Hợp đồng ủy quyền ngày 18/11/2022).

Bị đơn: Bà Phan Thị Mỹ D, sinh năm 1963

Địa chỉ: số nhà F, tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Ủy quyền cho ông Trương Ngọc Á, sinh năm 1973

Địa chỉ: khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Giấy ủy quyền ngày 14/3/2023).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Sang tỉnh Đ

    Địa chỉ: số A L, khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện: Bà Nguyễn Thị S.

  2. Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1980

    Địa chỉ: tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    H1 ủy quyền cho ông Dương Thái N, sinh năm 1992

    Địa chỉ thường trú: ấp C, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

    Địa chỉ liên hệ: số C, đường L, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Hợp đồng ủy quyền ngày 05/6/2023)

  3. Văn phòng công chứng Đào Mạnh H2.

    Địa chỉ: F, đường V, Khu phố G, phường T, tp ., tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện: Ông Đào Mạnh H2.

    (Bà L, ông H1, bà L1, ông Á, ông N, ông T1 có mặt; ông H2, bà S vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn kiện bổ sung, Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng L và bà Trần Thị L1 thống nhất trình bày như sau:

Vào ngày 17/08/2022 ông T được vợ là bà Phan Thị Mỹ D đưa đến V Công chứng Nguyễn Thị S để công chứng hợp đồng ủy quyền, theo đó ông T chỉ ủy quyền quản lý, trông coi lô đất thửa số: 55, tờ bản đồ số 14, diện tích: 2308,8m², tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DA 751094, số vào sổ: CS 06235 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020 cho ông T. Thời điểm đó ông T và bà D chưa ly hôn (ông T và bà D ly hôn ngày 09/5/2023). Khi còn là vợ chồng, lợi dụng sự tin tưởng của ông T, bà D đã làm hợp đồng ủy quyền toàn quyền quyết định liên quan đến lô đất. Vì tin tưởng nên ông T không đọc lại nội dung hợp đồng ủy quyền. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền cho bà D, ông T không giữ hợp đồng ủy quyền mà bà D giữ toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng ủy quyền. Khi ông T phát hiện ra hợp đồng ủy quyền có nội dung không đúng như nguyện vọng ban đầu ông T đã nhiều lần yêu cầu bà D tiến hành ký hủy hợp đồng ủy quyền và trả giấy chứng nhận lại cho ông T nhưng bà D trốn tránh, ông T đã làm đơn trình báo ra công an xã L để

giải quyết vụ việc. Vào lúc 09 giờ sáng ngày 31/10/2022, ông T cùng ông Nguyễn Thành N1 là công an viên xã L và con trai ông TNguyễn Văn H đến nhà bà Phan Thị Mỹ D tại số nhà F, tổ G, khu A, xã L, L tỉnh Đồng Nai với mục đích yêu cầu bà D trả lại cho ông T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA751094 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, diện tích 2308.8m², tọa lạc tại xã L, huyện L, Đồng Nai, được Sở TNMT tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020. Tuy nhiên, bà D không cho vào nhà bà, mà mời qua nhà ông L2 là em trai bà D kế bên ngồi nói chuyện. Tạ buổi nói chuyện bà D đồng ý trả nhưng không chịu trả liền mà hứa và hẹn sẽ trả lại sổ cho ông T vào 2 giờ chiều (14 giờ) cùng ngày 31/10/2022 tại UBND xã L có sự chứng kiến của ông N1 – là công an viên xã L. Diễn biến buổi nói chuyện của bà D và ông T được con trai ông T là ông Nguyễn Văn H ghi âm lại, có nội dung yêu cầu bà D trả sổ và bà D hứa chiều 14 giờ sẽ mang giấy chứng nhận ra xã L trả và ký hủy hợp đồng ủy quyền. Nội dung đoạn ghi âm thể hiện nguyên văn như sau: Bà D nói: “Tao giữ uy tín, đúng 2 giờ ngày 31/10/2022 sẽ đem ra xã trả và ký giấy trả lại sổ có sự chứng kiến của ủy ban nhân dân xã”. Ông H nói:“Con trai tôi có lập lại và kêu bà D xác nhận nếu đúng 2 giờ cùng ngày bà không ra xã trả sổ thì bà tính gì?”. Câu này ai nói ????. Bà D vỗ ngực nói: “uy tín, tao chưa bao giờ thất hứa”. Tuy nhiên từ 2 giờ (tức 14 giờ) cùng ngày 31/10/2022 thì bà D không mang sổ ra xã để trả cho ông T như lời hứa, còn cố tình gây khó dễ để chiếm đoạt thửa đất của ông T, sau đó bà D đi đâu không rõ. Ông T có tìm nhưng không được.

Do đòi nhiều lần bà D không trả nên ông T khởi kiện bà D về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thụ lý ngày 01/11/2022. Trong quá trình làm việc tại Tòa án, bà D có cung cấp một hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 02/11/2022, tại Văn phòng C, số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Đức A ký. Người nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là con gái ruột của bà D.

Như vậy, bà D đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người nhận ủy quyền và với mục đích chiếm đoạt tài sản của ông T nên bà D tiếp tục ký chuyển nhượng cho con gái ruột khi tranh chấp đang xảy ra. Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng này nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, giao dịch này nhằm mục đích là tẩu tán tài sản của ông T.

Bản thân bà D và bà H1 khi thực hiện việc chuyển nhượng cũng không biết chính xác vị trí thửa đất của ông T nằm ở đâu.

Vì vậy, ông T yêu cầu tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Nguyễn Văn T và bên được ủy quyền bà Phan Thị Mỹ D đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 002372, quyển số

02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai. Buộc bà Phan Thị Mỹ D giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số DA 751094 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS06235 cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022: TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022.

Xin rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022.

Đại diện cho nguyên đơn xác nhận đã được giải thích về việc yêu cầu hợp đồng vô hiệu và hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đại diện cho nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 bên nguyên đơn có ý kiến như sau: Ông T chưa bao giờ có ý định chuyển nhượng lô đất này. Bản thân ông T là người có kinh tế vững, không có nhu cầu chuyển nhượng đất cho ai để thu lợi. Hơn nữa đây là đất của gia tộc để lại, nên ông chưa bao giờ có ý định bán. Thời điểm bà D ký chuyển nhượng với bà H1 là ngày 02/11/2022. Trước ngày này ông T đã phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng ủy quyền. Ngày 01/11/2022 Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã thụ lý yêu cầu giải quyết việc hủy hợp đồng ủy quyền của ông T. Bà D đã biết sự việc trên và hứa sẽ ký hủy hợp đồng ủy quyền cho ông T tại nhà em trai bà D vào ngày 31/10/2022. Ông T đã không chung sống với bà D từ giữa tháng 09 năm 2022, sau khi phát hiện sự việc gian dối trên. Do đó, không có việc thỏa thuận mua bán theo như trong đơn khởi kiện độc lập của bà H1 trình bày, không có sự việc giao dịch như trên. Bản thân ông T không nhận bất kỳ tài sản nào từ bà H1. Bà H1 cho rằng đã gửi tiền về cho ông T. Bà H1 không cung cấp được giấy tờ giao dịch số tiền là 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng) gửi cho bà D là giấy tờ nào, thông qua ngân hàng nào? Toàn bộ số tiền mà bà H1 trình bày đã đưa cho bà D để bà D trả cho ông T là hoàn toàn không có, bịa đặt. Ông T không biết, không nhận bất kỳ một khoản tiền nào từ bà D liên quan đến thửa đất trên. Hơn nữa thửa đất này giá trị gần

19.000.000.000 đồng. Ông T cũng không có lý do gì, khi không cần tiền mà lại đi bán rẻ cho bà H1 với gía bốn tỷ đồng. Điều này bất hợp lý. Vào ngày 21/12/2022 bà D có nộp đơn khởi kiện phản tố, yêu cầu ông T trả lại cho bà D số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) là tiền bà D chuyển nhượng thửa đất cho bà H1, với giá 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Số tiền này bà D đã nhận và cho rằng đã lo chi phí thuốc men điều trị bệnh cho ông T hết 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Trong đơn khởi kiện yêu cầu độc lập của con gái bà D thì bà H1 lại nêu chuyển nhượng thửa đất này là 3.900.000.000 đồng (ba tỷ chín trăm triệu đồng). Yêu cầu ông T phải trả 2.900.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm triệu đồng). Nội dung trước sau không trùng khớp, thể hiện sự lươn lẹo gian dối để chiếm đoạt tài sản của ông T. Hai mẹ con bà D đã dựng câu chuyện chuyển nhượng để mục đích chiếm đoạt tài sản của ông T rất rõ ràng. Việc giao nhận tiền của hai mẹ con bà D cho dù có giấy tờ hay không thì bản chất cũng chỉ là cấu kết với nhau để buộc ông T phải trả tiền, nếu như muốn lấy đất. Còn bản thân ông T chưa nhận bất cứ giá trị gì từ thửa đất nêu trên. Vì tại thời điểm ấy tiền mặt trong tài khoản ngân hàng của ông T hơn ba tỷ, chưa kể những khoản khác, nhưng bà D đã lợi dụng sự đau ốm cũng như sự tin tưởng của ông chuyển qua tài khoản của bà để bà mua đất và điều trị bệnh cho ông. Vụ việc này đang được giải quyết bằng một vụ án khác. Vì vậy, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bà D đã nhận từ bà H1 những gì, thì bà D có nghĩa vụ trả cho bà H1. Ông T không biết.

Tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa - bà Phan Thị Mỹ D trình bày và ủy quyền cho đại diện ông Trương Ngọc Á - trình bày:

Bản thân ông Nguyễn Văn T trong cuộc sống đã bị vợ và các con ruồng bỏ, vợ con ông T dùng mưu mô lấy tài sản của ông T. Khi ông T bệnh nặng vợ và hai con của ông là Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1979 không chăm sóc cho ông T thể hiện ở nội dung giấy viết tay trong đơn kêu cứu của ông Nguyễn Văn T tự viết. Ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị Mỹ D là bạn từ nhỏ, khoảng tháng 7 năm 2022 bà D gặp ông T trong tình trạng ông T bệnh nặng, thập tử nhất sinh, bà D đã chăm sóc cho ông T đưa ông đi bệnh viện để điều trị các thứ bệnh. Sau khi lành bệnh, ông T cũng không có ai chăm sóc và do tuổi già không biết mình sẽ chết lúc nào. Đồng thời, mang ơn, gá nghĩa, chăm sóc ông khi bệnh nên ông T đã kết hôn cùng bà D. Về sống với bà D, ông T có khối tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai có diện tích 2.308,8 m². Ông T cần vốn để làm ăn trong việc mua bán đất đai nên có hứa bán cho con gái riêng của bà D là bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phần đất này. Bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đã nhờ bà D đưa trước cho ông T

400.000.000 đồng, 10 ngày sau bà H1 đã gửi 2.500.000.000 đồng cho bạn của mình từ Đài Loan về đưa cho bà D để đưa cho ông T số tiền 2.500.000.000 đồng để làm tiền cọc và hẹn một tháng sau sẽ đưa hết số tiền còn lại để làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Do lo ngại sức khỏe ông T đang yếu, không biết chết bất kỳ lúc nào, bà D và ông T bàn bạc là ra phòng công chứng làm hợp đồng ủy quyền thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L, huyện L, có diện tích 2308,8 m². Nội dung hợp đồng ủy quyền ông T cho bà D toàn quyền định đoạt, quản lý, trông coi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn, lập hợp đồng đặt cọc và nhận tiền cọc, thương lượng giá chuyển nhượng và nhận tiền chuyển nhượng, thế chấp vay tiền các tổ chức tín dụng, đất nằm trong dự án nhà nước phải thu hồi, thì bà D được ký bàn giao mặt bằng thửa đất, nhận tiền bồi thường đất và hoa màu trên đất, nhận tiền hỗ trợ và bổ sung khác khi có quyết định thu hồi của nhà nước, ký hồ sơ kiểm kê bồi thường đất và nhận cấp nhà, đất, ký bàn giao quyền sử dụng đất và tham gia bốc thăm nhận nền đất tái định cư. Hợp đồng đo vẽ, gia hạn thời hạn sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sửu dụng đất mới, nộp và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số tiền 2.900.000.000 đồng này ông T đã cất vào một cái túi riêng của ông ở trong nhà bà D và cùng những thứ quan trọng khác mà bà D không biết. Ông T làm ăn hay mua bán đất đai gì bà D cũng không biết. Ông T nhận số tiền này nói là có điện thoại và nói chuyện với bà H1 rồi. Sau đó, 05 ngày tiếp theo bà H1 đã nhờ bạn gửi cho bà D 1.000.000.000 đồng bà D đã đưa cho ông T cất tại tủ riêng chờ bà H1 về ký giấy chuyển nhượng sẽ làm giấy giao tiền cho ông T.

Trong thời gian chờ bà H1 về ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông T nói với bà D: ông có mua một căn nhà ở xã A đã trả trước 950.000.000 đồng, bà D muốn hùn mua thì hùn với ông T 400.000.000 đồng nữa. Ông T thỏa thuận với bà D khi bán có lời thì sẽ chia đôi cho bà D. Lúc đó, bà H1 chưa về Việt Nam và trong Ngân hàng có tiền nên bà D đồng ý và cùng ông T hùn nhận chuyển nhượng thửa đất có diện tích 94 m², tương đương với lô đất 207-02 theo trích đo vẽ hồ sơ kỹ thuật thửa đất của Công ty TNHH T5, xây dựng huyện L, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 189504 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 20/01/2017 với giá 1.350.000.000 đồng do ông Nguyễn Gia T2 và bà Đặng Thị T3 quản lý và sử dụng. Bà D đã chuyển cho ông Nguyễn Gia T2 và bà Đặng Thị T3 số tiền 400.000.000 đồng nữa và hai bên đã lập vi bằng do Văn phòng thừa phát lại huyện L số 41-2022/VB-TPLLT ngày 30/8/2022. Vụ việc này đang được tranh chấp

bằng vụ án khác đã được thụ lý tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành nên bà D không tranh chấp gì trong vụ án này.

Sau đó, sức khỏe của bà D ngày càng suy kiệt, bà bệnh nhiều ngày, bà phải nằm một chỗ không đi được. Thời gian này ông T đã mạnh khỏe và đi sớm về khuya có hôm thì không về. Khoảng gần cuối tháng 10/2022 trong lúc bà D đang bệnh thì ông T cho xe vào nhà và dọn tất cả đồ đạc, tài sản của ông T đi không nói cho bà một tiếng nào. Số tiền 1.000.000.000 đồng đang cất trong tủ chờ bà H1 về làm thủ tục chuyển nhượng đất đai ông T cũng lấy đi luôn. Vài ngày sau, ngày 31/10/2022 ông T và con trai ông là Nguyễn Văn H cùng một người mặc sắc phục dân phòng ập vào nhà chửi bà D đe dọa hành hung bà và yêu cầu bà phải trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai là phần đất mà ông T đã hứa chuyển nhượng và đã làm hợp đồng ủy quyền cho bà D. Nhận thấy, sự việc phức tạp và có sự lợi dụng để chiếm đọat tài sản nên bà D gọi con gái là bà Nguyễn Thị Mỹ H1 từ Đài Loan về gấp. Bà H1 từ Đài Loan về Việt Nam ngày 01/11/2022 và ngày 02/11/2022 bà D đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 55 tờ bản đồ số 14 cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 tại Văn phòng công chứng Đào Mạnh H2 do để giảm chi phí tiền thuê nên trong hợp đồng chỉ ghi giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng. Thực chất là bà H1 đã nhờ bà D đưa cho ông T số tiền 3.500.000.000 đồng và bà D đã đưa cho ông T 400.000.000 đồng trước đó. Tổng số tiền 3.900.000.000 ông T đã sử dụng số tiền này vào mục đích gì bà D không biết.

Khi ông T và bà D đang là vợ chồng hợp pháp, trong khi ông T bệnh bà D lo lắng chăm sóc cho ông, đến khi bà D bệnh thì ông âm thầm dọn nhà và tài sản đi không cho bà biết. Hiện nay bà Phan Thị Mỹ D đã ly hôn với ông Nguyễn Văn T đồng nghĩa là, phải làm rõ là ông T cùng các con mình là ông Nguyễn Văn HNguyễn Thị Hồng L lợi dụng sự tin tưởng của bà D để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bà D và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 hay không. Ông Nguyễn Văn T là người từng có gia đình có hai người con lớn đã trưởng thành. Tuy nhiên, các con ông đã hắt hủi và không thương yêu, ông T đã viết đơn kêu cứu đến chính quyền địa phương, không biết UBND xã L có nhận được đơn hay không về việc con cái và người thân đã xâm phạm uy tín, danh dự của ông T, ngược đãi ông dẫn đến ông phải nhờ sự chăm sóc của bà Phan Thị Mỹ D và kết hôn với bà D. Ông T đã nhận số tiền 3.900.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và của bà D gửi từ bên Đài Loan về để nhận chuyển nhượng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Ông T nhận tiền xong thì không thực hiện lời hứa mà có hành vi cấu kết với con trai và dân phòng khu phố trấn áp bà D hòng mong cưỡng đoạt tài sản của bà. Nay ông Nguyễn Văn T khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Long

Thành, yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền, yêu cầu trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có hành vi vi phạm pháp luật, có hành vi nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không thực hiện chuyển nhượng, cố tình dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của bà Mỹ H1.

Trước đây khi vụ án mới xảy ra, Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà D. Tuy nhiên, thời gian này bà bị bệnh trầm cảm rất nặng, nhớ trước quên sau, các người đại diện ủy quyền trước cho bà không biết bà bị bệnh nên đã khai và làm theo quán tính đối với các con số có thực trên hợp đồng và lời khai một phía từ ông T và người đại diện của ông T. Nay bà D đã được điều trị hết bệnh và bà D đã nhớ tất cả, tại Bản tự khai này là Bản khai sự thật, đồng thời thay thế cho các bản khai trước đây đã nộp cho Tòa án.

Trong quá trình tố tụng cũng như thể hiện tại biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã được giải thích về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải thích hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đại diện cho bị đơn xác nhận không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Nguyên đơn có yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Mỹ D và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 tại Văn phòng C số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Đức A ký ngày 02/11/2022 Thẩm phán đã giải thích nhưng đại diện cho bà D không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D thì bà D sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Bà D thống nhất với yêu cầu của bà H1, nếu hợp đồng vô hiệu thì ông T phải trả lại cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng mà bà H1 đã trả cho ông T để nhận chuyển nhượng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà D và ông Á cùng xác định hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D và bà H1 vô hiệu là ông T phải trả bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng. Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng ông T tự ý lấy đi bà D sẽ đòi ông T bằng vụ án khác. Nếu ông T không trả cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng thì đề nghị không tuyên vô hiệu của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và bà Phan Thị Mỹ D đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Đề nghị không tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022. Đề

nghị Hội đồng bác tất cả yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Nguyễn Thị Mỹ H1.

Tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa – đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là ông Dương Thái N trình bày:

Nguyễn Thị Mỹ H1 là con của bà Phan Thị Mỹ D sinh sống tại Đài Loan và về Việt Nam khi có công việc như nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T, khởi kiện tranh chấp tại tòa với ông T và thực hiện thủ tục ủy quyền cho người đại diện để đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành và các công việc khác cần xử lý tài Việt Nam. Bà H1 đi về Việt Nam xử lý công việc xong lại đi về Đài Loan. Bà H1 làm việc tại Đài Loan thường xuyên gửi tiền về cho mẹ là bà Phan Thị Mỹ D cất giữ, hình thức gửi tiền bằng chuyển khoản ngân hàng và gửi bạn bè thân thuộc đưa về cho mẹ là bà D để bà D nhập hàng cho bà H1 buôn bán bên Đài Loan. Vào thời gian giữa tháng 8 năm 2022 bà D có kết hôn với ông Nguyễn Văn T, bà H1 không có ý kiến về việc kết hôn này vì mẹ bà H1 cũng cần có người bầu bạn khi bà H1 không ở gần mẹ. Đồng thời, trong thời gian này ông T kêu bà H1 nói sẽ bán rẻ cho bà H1 thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại xã L có diện tích 2305,8 m² với giá 4.000.000.000 đồng bớt 100.000.000 đồng còn 3.900.000.000 đồng và cho bà H1 trả làm nhiều đợt. Mẹ bà H1 có nói thửa đất ông T kêu bán có giá rẻ, nên bà Hòa đồng ý mua và bà H1 kêu mẹ bà H1 cho mượn 400.000.000 đồng để đưa trước cho ông T và 10 ngày sau bà H1 gửi về nhà cho bà D 2.500.000.000 đồng để trả cho ông T. Tiếp tục 05 ngày sau bà H1 gửi về cho mẹ là bà D 1.000.000.000 đồng. Đến ngày 02/11/2022 thì bà D kêu bà H1 về và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L cho bà H1 tại Văn phòng công chứng Đào Mạnh H2. Ông T không thực hiện giao kết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ly hôn với bà D và yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bà H1 đã nhận chuyển nhượng là không có cơ sở, vi phạm quyền lợi của bà H1. Bà H1 không đồng ý việc ông T khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14 tọa lạc xã L, không đồng ý việc ông T yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền. Bởi vì, bà H1 đã gửi tiền về cho bà D tất cả là 3.500.000.000 đồng. Bà D đã trả tiền cho ông T hết 2.900.000.000 đồng còn 1.000.000.000 đồng bà D nói ông T dọn nhà đi đã lấy luôn của bà D.

Trong quá trình tố tụng cũng như thể hiện tại biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã được giải thích về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải thích hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đại diện cho bà H1 xác nhận không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Nguyên đơn có yêu cầu

tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Mỹ D và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 tại Văn phòng C số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Đức A ký ngày 02/11/2022 Tòa án đã giải thích nhưng đại diện cho bà H1 không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu phát sinh hậu quả ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1 thì bà H1 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Nếu hợp đồng vô hiệu thì bà H1 chỉ yêu cầu ông T trả lại số tiền 2.900.000.000 đồng mà bà H1 đã chuyển cho ông T để nhận chuyển nhượng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, Tòa lạc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nay tại phiên tòa ông N đại diện cho bà H1 xác định chỉ có yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng mà bà H1 đã trả cho ông T để nhận chuyển nhượng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đây cũng là hậu quả của việc nếu Tòa án tuyến bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Mỹ D và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 tại Văn phòng C số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Đức A ký ngày 02/11/2022

Đối với yêu cầu của bà H1 về: không chấp nhận nội dung yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị Mỹ DNguyễn Thị Mỹ H1 tại Văn phòng công chứng Đào Mạnh H2 số công chứng 3657, quyển số 04/2022: TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Đức A ký ngày 02/11/2022. Yêu cầu ông Nguyễn Văn T chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai và các yêu cầu khác chỉ là ý kiến không phải là yêu cầu khởi kiện độc lập.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không đồng ý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của ông T. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T. Đề nghị xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H1 buộc ông T phải trả cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 và bà D như đã trình bày ở trên vô hiệu.

Tại Bản trình bày ý kiến, trong quá trình tố tụng- người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Đào Mạnh H2 – người đại diện theo pháp luật ông Đào Mạnh H2 trình bày:

Ngày 02/11/2022, Văn phòng C có nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Phan Thị Mỹ D (bà Phan Thị Mỹ D là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T) với bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Mỹ H1. Công chứng viên Nguyễn Đức

A thụ lý hồ sơ, qua kiểm tra hồ sơ công chứng bên người yêu cầu cung cấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DA 751094 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020 cho ông Nguyễn Văn T sử dụng đối với thửa đất số: 55, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Hủy hợp đồng ủy quyền công chứng số: 002372, quyển số: 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S, tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày: 17/8/2022; giấy tờ tùy thân của các bên giao dịch đúng quy định của pháp luật. Công chứng viên đã giải thích cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý của việc giao kết hợp đồng; bên nhận chuyển nhượng đã cam kết tìm hiểu rõ tình trạng pháp lý tài sản và nhân thân bên chuyển nhượng, các bên tự nguyện giao kết hợp đồng không bị lừa dối hay ép buộc. Căn cứ hồ sơ, Văn phòng C đã thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng: 3657, quyển số: 04/2022 (TP/CC-SCC/HĐGD là hoàn toàn đúng pháp luật và trình tự thủ tục công chứng. Không đồng ý với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xin giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt.

Tại bản ý kiến, trong quá trình tố tụng- người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S trình bày:

Theo hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng C thể hiện ngày 17/08/2022 ông Nguyễn Văn T, bà Phan Thị Mỹ D có yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Sang tỉnh Đ công chứng hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Bộ hồ sơ hợp đồng ủy quyền lưu trữ tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S, tỉnh Đồng Nai gồm: Phiếu yêu cầu công chứng, Hợp đồng ủy quyền bao gồm cả trang lời chứng của Công chứng viên Nguyễn Thị S, số công chứng 002373, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 17/08/2022; căn cước công dân, hộ khẩu của ông Nguyễn Văn T, căn cước công dân, hộ khẩu của bà Phan Thị Mỹ D, 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Phiếu tra cứ giao dịch đảm bảo. Tại thời điểm công chứng hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị Mỹ D đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung ủy quyền, ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị Mỹ D có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, tài sản của bên ủy quyền do ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sử dụng là tài sản riêng hợp pháp của ông Nguyễn Văn T được ghi nhận trong “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” có nguồn gốc sử dụng: “Được tặng cho đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền

sử dụng đất”, cuối bản hợp đồng các bên có ký tên, điểm chỉ, ghi “tôi đã đọc và đồng ý ký tên” trong hợp đồng. Việc công chứng hợp đồng ủy quyền nêu trên đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định Luật công chứng. Xin giải quyết vụ án vắng mặt.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là L3- ông Nguyễn Ngọc T4 trình bày:

Ông T ký hợp đồng ủy quyền cho bà D là hoàn toàn tự nguyện dẫn đến việc bà D và bà H1 tạo lập các giao dịch sau đó. Hợp đồng chuyển nhượng giao dịch giữa bà H1 và bà D là phù hợp. Nếu Hội đồng xét xử tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022 thì phải buộc ông T trả lại cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng. Đối với yêu cầu ông T chấm dứt hành vi cản trở và trả lại cho bà H1 thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai chỉ là ý kiến trình bày. Với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H1 xác định bà H1 chỉ có một yêu cầu khởi kiện độc lập là buộc ông T phải trả cho bà H1 số tiền 2.900.000.000 đồng, đây là hậu quả của việc tuyên vô hiệu hợp đồng. Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng ông T lấy đi sẽ tranh chấp bằng vụ án khác.

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của bà H1 và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông T

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DSST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hủy hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Nguyễn Văn T và bên được ủy quyền bà Phan Thị Mỹ D đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 002372, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022: TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022.

Phan Thị Mỹ D phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số DA 751094 do Sở Tài nguyên và Môi

trường tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS06235 cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho ông Nguyễn Văn T.

Trong trường hợp bà D không trả lại cho ông Nguyễn Văn T thì ông Nguyễn Văn T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được cấp lại theo trình tự quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số DA 751094 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS06235 cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

3. Bác tòan bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn T, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ D và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H1 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022:TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 02 tháng 11 năm 2022.

5. Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá và chi phí tố tụng khác: Bà D phải chịu số tiền 106.821.300 đồng (một trăm lẻ sáu triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm đồng) chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá. Ông T đã nộp số tiền này nên buộc bà D phải trả lại cho ông T số tiền 106.821.300 đồng (một trăm lẻ sáu triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm đồng).

6. Về án phí dân sự:

6.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phan Thị Mỹ D phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) đã nộp theo biên lai số 0009659 ngày 15/6/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Bà H1 còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).

6.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Phan Thị Mỹ D phải chịu số tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí kháng cáo

đã nộp tại biên lai 0002347 ngày 18/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Nguyễn Thị Mỹ H1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp tại biên lai 0002377 ngày 23/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

7. Thi hành án:

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND H. Long Thành;
  • - Chi cục THADS H. Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Minh

Lê Thị Ký

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 120/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Tr yêu cầu tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Nguyễn Văn Tr và bên được ủy quyền bà Phan Thị Mỹ D đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã Long Đ, huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai số công chứng 002372, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S, tỉnh Đồng Nai. Buộc bà Phan Thị Mỹ D giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số DA 751094 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 31/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS06235 cho ông Nguyễn Văn Tr đối với thửa đất 55, tờ bản đồ số 14, xã Long Đ, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn Trung, đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Mỹ Dung và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14, xã Long Đ, huyện L, tỉnh Đồng Nai số công chứng 3657, quyển số 04/2022: TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Đào Mạnh H ngày 02 tháng 11 năm 2022.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger