Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 12/2024/KDTM-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v “T/c Hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN-TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
  2. Bà Hồ Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 137/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2024/QĐXXST – DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 296/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chủ tịch Hội đồng Quản trị

Địa chỉ trụ sở: Số B N, P. T, Q. H, TP . Hà Nội.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung N – Phó Giám đốc Khối Quản lý và T Cấu Trúc Tài sản theo Giấy ủy quyền số 10772/UQ-PVB ngày 10/6/2020.

+ Ông Nguyễn Hoàng Trung N - Phó Giám đốc Khối Quản lý và Tái Cấu T1 Tài sản ủy quyền cho ông Lê Tiến Đ – Phó Giám đốc quản lý khách hàng khu vực T và bà Huỳnh Thị Mỹ D1 – Chuyên viên tố tụng theo giấy ủy quyền số 2399/UQ-PVB ngày 07/7/2023;

+ Bị đơn: Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1970 và ông Đỗ Phi L1, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Huỳnh Thị Mỹ D1 là đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (P) trình bày:

Bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 có ký kết Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG (“Hợp đồng tín dụng”) ngày 19/7/2019 cùng khế ước nhận nợ với cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh A (P) đã cùng như sau:

  • Phương thức cho vay: Vay hạn mức;
  • Số tiền vay: 638.000.000đ;
  • Thời hạn vay: 36 tháng;
  • Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh vùng, miền lúa nếp;
  • Phương thức trả nợ:
    • + Gốc : Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ.
    • + Lãi: Kỳ hạn trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 15 kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/05/2020.
  • Lãi suất cho vay:
    • + Từ ngày 22/04/2020 đến ngày 21/07/2020 lãi suất bằng: 8,0%/năm.
    • + Từ ngày 22/07/2020 (điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần): Lãi suất cho vay = lãi suất cơ sở + biên độ 3,5%/năm.

Trong đó: Lãi suất cơ sở là lãi suất tiền gửi Đại Chúng dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng trong từng thời kỳ.

- Lãi suất cho vay hiện tại: 17.235 %/năm

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019 cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất:

  • Tổng diện tích: 10.150 m²
  • Địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh An Giang
  • Thửa đất: 568, 892; Tờ bản đồ: 29
  • Mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước
  • Nguồn gốc sử dụng đất: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.

Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh P1, tỉnh An Giang ngày 22/7/2019.

Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. P đã gửi thông báo, công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho P xử lý theo đúng quy định nhưng ông, bà không thực hiện theo yêu cầu và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. P đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên có liên quan theo đúng quy định. Đến nay, bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 chỉ trả cho P số tiền cụ thể như sau:

Dư nợ tạm tính đến ngày 31/5/2024 của khoản vay bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 như sau:

  • Tổng nợ gốc:638.000.000 đồng
  • Tổng nợ lãi:403.799.520 đồng, trong đó:
    • + Lãi trong hạn:25.899.866 đồng
    • + Lãi quá hạn:369.041.486 đồng
    • + Lãi chậm trả:8.858.168 đồng
  • Tổng cộng:1.041.799.520 đồng

Để bảo vệ quyền và lợi ích của P, P khởi kiện bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

  1. Buộc bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 thanh toán cho P tổng số tiền 1.041.799.520 đồng, bao gồm 638.000.000 đồng nợ gốc và 403.799.520 đồng nợ lãi (tạm tính đến ngày 31/5/2024).
  2. Bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019 cho đến khi bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 thanh toán xong các khoản nợ.
  3. Nếu bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh thì yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019 để xử lý tài sản đảm bảo tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.
  4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 đối với P. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho P.

- Bị đơn bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Mỹ D1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

* Việc chấp hành pháp luật của Thư ký:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thư ký đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • - Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: xác định lại quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 299, 303, 317, 318, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 liên đới thanh toán cho P tổng số tiền 1.041.799.520 đồng, bao gồm 638.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi 403.799.520 đồng (tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm).

Bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019 cho đến khi bà Phạm Thi T3 và ông Đỗ Phi L1 thanh toán xong các khoản nợ.

Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019. Nếu bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì khi bản án có hiệu lực ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019, tài sản thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dung đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thì T4 và ông Đỗ Phi L1 đôi với P. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không dùthanh toản hết khoản nợ thì bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho P.

Đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ngày 02/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý vụ án dân sự giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Ngân hàng trình bày ông L1 và bà T2 có đăng ký kinh doanh mua bán lúa nếp và mục đích vay là bổ sung vốn lưu động kinh doanh vùng, miền lúa nếp nên được xem là tranh chấp kinh doanh thương mại theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào sự thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp tại bản điều khoản và điều kiện cấp hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB – CN.AG thì tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.2] Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Mỹ D1 tham gia tố tụng, thủ tục ủy quyền hợp lệ, phù hợp với Điều 85 và Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận bà D1 tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

[1.3] Tại phiên tòa ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 có ký kết Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG (“Hợp đồng tín dụng”) ngày 19/7/2019 cùng khế ước nhận nợ với cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh A để vay số tiền 638.000.000 đồng. Mục đích vay: bổ sung vốn lưu động kinh doanh vùng, miền lúa nếp, thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất được tính như sau: từ ngày 22/04/2020 đến ngày 21/07/2020 lãi suất bằng 8%/năm; từ ngày 22/07/2020 (điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần): lãi suất cho vay = lãi suất cơ sở + biên độ 3,5%/năm; trong đó: lãi suất cơ sở là lãi suất tiền gửi Đại Chúng dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng trong từng thời kỳ; lãi suất cho vay hiện tại: 17.235 %/năm;

Hợp đồng tín dụng nêu trên được đảm bảo bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019, tài sản thế chấp là phần đất có diện tích: 10.150 m², địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thửa đất: 568, 892; tờ bản đồ: 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.

Trong quá trình vay vốn, bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. P đã gửi thông báo, công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho P xử lý theo đúng quy định nhưng ông, bà không thực hiện theo yêu cầu và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Tạm tính đến ngày 31/5/2024, bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 còn nợ ngân hàng vốn gốc: 638.000.000 đồng, lãi trong hạn: 25.889.866 đồng; tiền phạt chậm trả lãi: 8.858.168 đồng; lãi quá hạn 369.041.486 đồng. Tổng cộng số tiền ông L1 và bà T2 còn nợ là 1.041.799.520 đồng.

[2.2] Qua xem xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG (“Hợp đồng tín dụng”) ngày 19/7/2019 giữa Ngân hàng với bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với Điều 17 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng N1 ban hành và Luật tổ chức tín dụng năm 2010 cho nên hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý. Việc bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn, lãi theo hợp đồng là vi phạm thỏa thuận đã giao kết theo Điều 3 trong hợp đồng nên phải chịu hậu quả theo giao kết giữa hai bên, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án tống đạt cho người vắng mặt tại nơi cư trú trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn không thể hiện ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập cũng như có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy đương sự đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã làm ảnh hưởng đền quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn là 638.000.000đồng còn nợ là có cơ sở và phù hợp với qui định pháp luật nên được chấp nhận.

[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký là gây ảnh hưởng đến Ngân hàng nên Ngân hàng căn cứ vào Điều 2 của hợp đồng để yêu cầu tính lãi là có cơ sở phù hợp khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và điểm b khoản 2 Điều 118 Luật tổ chức tín dụng nên được chấp nhận. Tiền lãi tạm tính đến hết ngày 31/5/2024 là 403.799.520 đồng.

[2.4] Như vậy, tổng cộng số tiền vốn và lãi mà bà Phạm Thị T2 và ông Đỗ Phi L1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 1.041.799.520 đồng, bao gồm 638.000.000 đồng nợ gốc và 403.799.520 đồng nợ lãi và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng hạn mức cho vay số 438/2019/HĐHM/PVB-CN.AG cho đến khi thanh toán dứt nợ.

[5] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 438/2019/HĐBĐ/PVB-CN.AG ngày 19/7/2019, tài sản thế chấp là phần đất có diện tích: 10.150 m², địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thửa đất: 568, 892; tờ bản đồ: 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2. Hợp đồng này được hai bên ký kết là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Trường hợp ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là phần đất có diện tích: 10.150 m², địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thửa đất: 568, 892; tờ bản đồ: 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Về chi phí tố tụng: ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 phải chịu 1.200.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 180; Điều 157; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 317, Điều 318, Điều 319; Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010.

Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

Buộc ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 1.041.799.520 đồng (một tỷ không trăm bốn mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn năm trăm hai chục đồng), trong đó vốn gốc là 638.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi tám triệu) và 403.799.520 đồng (bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn năm trăm hai chục đồng) nợ lãi .

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (31/5/2024), ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là phần đất có diện tích: 10.150 m², địa chỉ: xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thửa đất: 568, 892; tờ bản đồ: 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 063183 số vào sổ CH04465 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2013 cho ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2.

[2] Về án phí:

Ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 phải chịu 43.253.986 đồng (bốn mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền 20.023.000đồng (tám triệu ba trăm lẻ năm nghìn hai trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001687 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

[3] Về chi phí tố tụng:

Ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 phải chịu 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã nộp 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) tạm ứng chí phí xem xét thẩm định tại chỗ nên ông Đỗ Phi L1 và bà Phạm Thị T2 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).

[4] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/KDTM-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PVCombank kiện ông L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger