Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 12/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Trần Bích Thủy;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã có công văn không tham gia phiên tòa, ( Không thuộc trường hợp theo Điều 21 BLTTDS).

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 70/2023/TLDS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-DS ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:

giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1966. (Có mặt)

ĐKHKTT: Thôn B, xã P, huyện P, TP .;

Bị đơn: Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã C, thị xã S, TP .;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa ông Hoàng Văn L trình bày:

Ông và anh Phạm Văn L1 có quan hệ quen biết. Năm 2012, anh L1 có vay của ông số tiền 79.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 02/12/2012 đến ngày 02/5/2013, với lãi xuất thỏa thuận là 2,5%/tháng. Khi vay các bên có lập Giấy vay tiền ngày 02/12/2012, có anh L1 và vợ là chị Trần Thị N ký tên:

Sau khi vay tiền, anh L1 chưa trả cho ông L1 khoản tiền nào. Năm 2018, anh L1 có đóng cho ông L1 04 chiếc tủ trị giá 62.400.000 đồng, ông L1 xác định được đối trừ vào tiền lãi. Quá trình giải quyết tại Tòa án, ngày 06/3/2024 anh L1 có viết Giấy cam kết, nội dung thừa nhận còn nợ ông L1 số tiền 40.000.000 đồng và cam kết trả trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 06/3/2024, nhưng không thực hiện đúng cam kết. Ngày 22/4/2024, anh L1 có trả cho ông L1 số tiền 5.000.000 đồng, ông L1 xác định số tiền trên được trả vào tiền lãi.

Nay ông Hoàng Văn L khởi kiện anh Phạm Văn L1 tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh L1 trả lại cho ông số tiền gốc đã vay là 79.000.000 đồng, và lãi xuất theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay đến khi kết thúc khoản nợ. Ông L1 xác định chỉ có anh L1 vay tiền và được trực tiếp nhận tiền, không liên quan đến chị Trần Thị N nên chỉ yêu cầu anh L1 có nghĩa vụ trả nợ.

Về bị đơn là anh Phạm Văn L1 có trình bày tại bản tự khai ngày 24/10/2023 trong quá trình hòa giải tại Tòa án như sau: Trong năm 2008, anh có vay ông L1 03 lần với tổng số tiền 35.000.000 đồngvới lãi xuất 2.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ ngày. Trong thời gian đó anh có trả nợ tổng 5 lần với số tiền là 10.000.000 đồng. Sau đó do khó khăn nên anh không trả được lãi và gốc cho ông L1, ông L1 nhiều lần đến đòi nhưng do anh không có khả năng trả nên ông L1 bắt vợ chồng anh viết G vay tiền số tiền 79.000.000 đồng cả gốc và lãi. Đến năm 2018, ông L1 làm nhà và có thương lượng với anh L1 khí đó làm xưởng mộc và bảo anh đóng 4 tủ quần áo đối trừ vào số nợ 79.000.000 đồng và còn lại số tiền chú cháu đi ăn coi như hết nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, giấy báo, giấy triệu tập cho anh L1. Tại Bản tự khai ngày 20/12/2023, anh L1 trình bày đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và đề nghị Tòa án cho anh thời gian thương lượng với ông Hoàng Văn L và sẽ trình bày lại việc thỏa thuận công nợ với ông L tại buổi làm việc tiếp theo tại Tòa án án. Ngày 06/3/2024, anh L có thỏa thuận với ông L về lịch trình thanh toán nợ tại Giấy cam kết, nội dung thừa nhận còn nợ ông L số tiền 40.000.000 đồng và cam kết trả trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 06/3/2024 nhưng sau đó không thực hiện. Ngày 22/4/2024, anh L có trả cho ông L số tiền 5.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng do anh L không đến Tòa án làm việc, không thực hiện đúng thỏa thuận theo cam kết, các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tòa án đã chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, TP . nghiên cứu đúng quy định. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã đã có Công văn số: 142/CV-VKS về việc không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Hoàng Văn L có khởi kiện đối với anh Phạm Văn L1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Xét thấy anh L1 có hộ khẩu thường trú tại số thôn Đ, xã C, thị xã S, TP . nên việc Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015).

Ngày 17/5/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Do bị đơn là anh Phạm Văn L1 vắng mặt không có lý do nên Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã căn cứ Điều 227 BLTTDS quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 30/5/2024 và tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Ngày 30/5/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây mở phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về yêu cầu khởi kiện tranh chấp Hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn ông Hoàng Văn L:

[2.1] Đối với yêu cầu về trả nợ gốc theo các Giấy vay tiền: Ông Hoàng Văn L và anh Phạm Văn L1 có quan hệ quen biết. Ngày 02/12/2012, anh Phạm Văn L1 có vay ông Hoàng Văn L số tiền gốc là 79.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 02/12/2012 đến ngày 02/5/2012 với lãi xuất thỏa thuận là 2,5%. Sau khi vay tiền, anh L có đóng cho ông L 4 chiếc tủ trị giá 62.400.000 đồng, ông L xác định số tiền trên được tính vào tiền lãi. Nay ông L khởi kiện anh L tại Tòa án, yêu cầu buộc anh L phải trả lại cho ông L số tiền gốc là 79.000.000 đồng và tiền lãi cho ông. Anh Phạm Văn L1 trình bày đã giải quyết xong công nợ với ông L1 sau khi đóng tủ, nhưng sau đó lại viết giấy cam kết trả nợ cho ông L1 nhưng không thực hiện.

Ngày 22/4/2022, anh L1 có thanh toán cho ông L1 số tiền 5.000.000 đồng, ông L1 xác định số tiền trên được tính vào tiền lãi.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ Hội đồng xét xử xác định: Ngày 02/12/2012, ông Hoàng Văn L và anh Phạm Văn L1 đã tiến hành giao kết Hợp đồng vay tài sản là tiền Việt Nam đồng có thỏa thuận về lãi suất. Khi giao kết Hợp đồng vay tài sản các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại các Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005 và các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L1 và anh L1 đã giao nhận số tiền vay, anh L1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho ông L1 như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn L buộc anh Phạm Văn L1 phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 79.000.000 đồng.

[2.2] Về lãi xuất: Ông Hoàng Văn L đề nghị áp dụng lãi xuất với mức theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay (ngày 10/5/2012) đến khi anh L trả xong nợ, anh L không trình bày ý kiến bằng văn bản về lãi xuất theo yêu cầu của ông L.

Hội đồng xét xử xét thấy: Do hợp đồng vay tài sản cuả ông L và anh L là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn, có thỏa thuận về lãi nhưng lãi xuất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác lập trước ngày 01/01/2017 nên HĐXX áp dụng Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005, buộc anh Phạm Văn L1 có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả và nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tại thời điểm trả nợ là 9%/năm tương ứng với thời gian chậm trả cụ thể như sau:

- Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả tính từ ngày 02/12/2012 đến ngày 02/5/2013 = 79.000.000 đồng x 9%/năm x 152 ngày = 2.960.876 đồng;

- Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tính từ ngày 03/5/2013 đến ngày xét xử 30/5/2024 = 79.000.000 đồng x 9%/năm x 4046 ngày = 78.813.863 đồng;

Tổng số tiền lãi anh L1 phải trả là 81.774.739 đồng. Ông L1 xác định anh L1 đã trả được 67.400.000 đồng được tính vào tiền lãi, do vậy anh L1 có nghĩa vụ phải trả số tiền còn lại là 14.374.739 đồng;

Kể từ ngày 31/5/2024, anh L1 còn phải tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Hoàng Văn L được chấp nhận nên ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Phạm Văn L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.656.085 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều Điều 91, Điều 94, Điều 96, Điều 97, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn L.

Buộc anh Phạm Văn L1 phải trả cho ông Hoàng Văn L số tiền là: 93.374.739 đồng (Chín mươi ba triệu ba trăm bảy mươi tư nghìn bảy trăm ba chín đồng), trong đó bao gồm: 79.000.000 đồng (Bảy mươi chín triệu đồng tiền nợ gốc) và 14.374.739 đồng (Mười bốn triệu ba trăm bảy mươi tư nghìn bảy trăm ba chín đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày 31/5/2024, anh L còn phải tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án (có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí: Hoàn trả ông Hoàng Văn L số tiền tạm ứng án phí là 3.190.000 (Ba triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000782 ngày 20/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây;

Anh Phạm Văn L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.668.736 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn, bảy trăm ba sáu đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Viện KSND TX. Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 12/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger