Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/KDTM-ST.

Ngày 28/9/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Hưởng.
  • Ông Nguyễn Kim Minh.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2024/TLST-KDTM, ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 42/2024/QÐST-KDTM ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Địa chỉ: Số A, đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Văn H - Chức danh: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh L (Theo văn bản uỷ quyền số: 625/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/6/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần C).

Người được uỷ quyền lại: Ông Đặng Viết N - Chức danh: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh L (Theo văn bản uỷ quyền số: 803/UQ-HĐQT-CNLCI-TCHC ngày 16/8/2024 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh L).

Địa chỉ: Đại lộ T, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T – Sinh năm: 1984 (Chủ hộ kinh doanh).

Địa chỉ: N đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký kinh doanh: Số nhà B, đường T, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Kim D - Sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Đặng Viết N đều trình bầy: Ngày 03 tháng 11 năm 2023, ông Trần Văn T - Chủ hộ kinh doanh Trần Văn T có giao kết hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2023-HĐCVHM/TVT với Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh L. Trong nội dung của hợp đồng vay hạn mức có thỏa thuận về hạn mức cho vay là 240.000.000VNĐ, thời hạn duy trì hạn mức từ ngày 03/11/2023 đến ngày 03/11/2024. Hình thức trả nợ, trả lãi suất vào ngày 25 hàng tháng, dư nợ gốc trả khi đến hạn tất toán khoản vay. Lãi suất cho vay được áp dụng lãi suất có điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng Thương mại cổ phần C. Ngày 03/11/2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh tỉnh L đã giải ngân cho ông Trần Văn T vay số tiền 240.000.000VNĐ, ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D (Là vợ của ông Trần Văn T cùng ký cam kết đồng trả nợ).

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D ký hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L. Tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 24A-206.56, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 24 013096 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 26/4/2022 cho chủ sở hữu là bà Đặng Thị Kim D. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật (Bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được đảm bảo là ông Trần Văn T, phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng trước và sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp).

Đến ngày 25/12/2023 ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ khoản tiền lãi suất theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã giao kết, khoản vay phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L đã đôn đốc và rất nhiều lần liên hệ làm việc với ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D đề nghị bên vay đồng thời cũng là chủ tài sản thế chấp thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc xử lý tài sản thế chấp để trả nợ, nhưng ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả khoản dư nợ và không xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C. Tính đến ngày xét xử 28 tháng 9 năm 2024, ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh còn dư nợ đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03/11/2023 là: 261.948.911VNĐ. Trong đó dư nợ gốc: 240.000.000VNĐ; nợ lãi suất trong hạn: 17.326.435VNĐ và nợ lãi suất quá hạn: 4.622.476VNĐ. Để bảo đảm quyền lợi, Ngân hàng Thương mại cổ phần C, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C tổng số tiền dư nợ tính đến 28/9/2024 là: 261.948.911VNĐVNĐ. Buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D có nghĩa vụ tiếp tục hoàn trả khoản tiền lãi suất quá hạn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03/11/2023 theo số dư nợ thực tế cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền phải hoàn trả. Trường hợp ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hoàn trả các khoản nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022 để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn ông Trần Văn T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Trần Văn T theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng ông Trần Văn T không chấp hành việc có mặt tại Tòa án, vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ. Ông Trần Văn T vắng mặt tại các phiên tòa ngày 13/9/2024 và ngày 28/9/2024 không có lý do. Do đó việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Trong biên bản ghi khai ngày 27/6/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim D trình bày: Bà Đặng Thị Kim D thừa nhận bà và ông Trần Văn T có quan hệ là vợ chồng, có cam kết đồng cùng trả nợ khoản vay theo hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023. Khoản tiền 240.000.000VNĐ ông Trần Văn T vay với mục đích, thanh toán tiền hàng và các chi phí hợp lý khác phục vụ hoạt động kinh doanh. Khoản tiền vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L. Tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 24A-206.56, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 24 013096 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 26/4/2022 cho chủ sở hữu là bà Đặng Thị Kim D. Việc Ngân hàng Thương mại cổ phần C khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền đã vay chưa thanh toán và khoản tiền lãi suất, bà Đặng Thị Kim D đề nghị Ngân hàng Thương mại cổ phần C sử dụng tài sản thế chấp để thanh lý hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C, ông Đặng Viết N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1, điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải thực hiện nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền dư nợ đến hết ngày 28/9/2024, tổng cộng là: 261.948.911VNĐ. Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 240.000.000VNĐ, khoản tiền lãi suất trong hạn là: 17.326.435VNĐ và khoản tiền lãi suất quá hạn là: 4.622.476VNĐ.

Buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải tiếp tục hoàn trả khoản tiền lãi suất phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-LTC ngày 03 tháng 11 năm 2023, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D hoàn trả hết khoản tiền nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Khi bên vay là ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim D đã được Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử, nhưng có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim D theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 03 tháng 11 năm 2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L đã giao kết hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT với chủ hộ kinh doanh ông Trần Văn T (Có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại số nhà B, đường T, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai). Trong đó, bên cho vay tài sản là Ngân hàng Thương mại cổ phần C, thực hiện hoạt động cho vay có mục đích lợi nhuận. Bên vay tài sản là ông Trần Văn T là chủ hộ kinh doanh vay tiền để thanh toán tiền hàng với mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh. Ngân hàng Thương mại cổ phần C khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh và bà Đặng Thị Kim D là người cam kết đồng trả nợ phải liên đới hoàn trả khoản tiền vay dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất theo hợp đồng tín dụng các bên đã giao kết. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng trong hoạt động kinh doanh, theo quy định tại khoản 1, Điều 30 và điểm b, khoản 1, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

[3]. Về nội dung tranh chấp: Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L và ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh được lập thành văn bản có chữ ký của các bên xác lập. Trong đó, bên cho vay tài sản là Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh tỉnh L và bên vay tài sản là ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh. Trong nội dung của hợp đồng các bên đã thoả thuận về hạn mức tín dụng, phương thức cho vay, mục đích sử dụng tiền vay, mức lãi suất, thời hạn cấp hạn mức và phương thức trả nợ. Đây là hợp đồng tín dụng cho vay có kỳ hạn, có nội dung thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023 có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận giao kết trong hợp đồng.

Thực hiện hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh tỉnh L đã giải ngân cho ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh vay số tiền là: 240.000.000VNĐ, với phương thức cho vay, trả nợ lãi suất vào ngày 25 hàng tháng, trả gốc một lần vào ngày 03/11/2024. Bà Đặng Thị Kim D có quan hệ là vợ của ông Trần Văn T cũng đã cam kết đồng trả nợ khoản vay của hợp đồng tín dụng đã giao kết. Quá trình sử dụng vốn vay và trả lãi suất cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh tỉnh L. Sau khi được giải ngân, ông Trần Văn T trả lãi suất lần cuối cùng vào ngày 25/11/2023. Từ ngày 25/12/2023 ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh, không thực hiện đúng nội dung đã cam kết trả lãi suất cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh tỉnh L. Như vậy, ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim Dung P đã vi phạm Điều 3 của hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023 (Không trả khoản tiền lãi suất vào ngày 25 hàng tháng). Do đó, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh và bà Đặng Thị Kim D phải liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C tổng số tiền còn dư nợ thu hồi nợ trước hạn theo thoả thuận tại Điều 9, phần 2 hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023 mà các bên đã giao kết. Tính đến ngày xét xử 28/9/2024 ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D còn dư nợ tổng cộng là: 261.948.911VNĐ. Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 240.000.000VNĐ, khoản tiền lãi suất trong hạn là: 17.326.435VNĐ và khoản tiền lãi suất quá hạn là: 4.622.476VNĐ. Khoản dư nợ này, cần buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Về tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán các khoản dự nợ của ông Trần Văn T chủ hộ kinh doanh và bà Đặng Thị Kim D là 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 24A-206.56. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 24 013096 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 26/4/2022 cho chủ sở hữu là bà Đặng Thị Kim D, theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022. Do ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng, không trả khoản tiền lãi suất và khoản tiền đã vay, nên hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L và ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D đã giao kết, sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản đã thế chấp, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C là có căn cứ pháp lý, cần được chấp nhận.

[4] Về án phí: Theo quy định của pháp luật bị đơn ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải chịu khoản tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại cổ phần C không phải chịu khoản tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C.

Buộc ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền dư nợ tính đến hết ngày 28/9/2024, tổng cộng là: 261.948.911VNĐ (Hai trăm sáu mươi một triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm mười một đồng). Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 240.000.000VNĐ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng), khoản tiền lãi suất trong hạn là: 17.326.435VNĐ (Mười bẩy triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng) và khoản tiền lãi suất quá hạn là: 4.622.476VNĐ (Bốn triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm bẩy mươi sáu đồng).

Trường hợp ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền gốc đã vay còn lại và khoản tiền lãi suất. Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2022/TVT/HĐBĐ/NHCT180 ngày 28/4/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L với ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần C có đơn yêu cầu thi hành án, ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phát sinh sau ngày 28/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2023-HĐCVHM/NHCT180-TVT ngày 03 tháng 11 năm 2023, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì lãi suất thì ông Trần Văn T và bà Đặng Thị Kim D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Buộc bị đơn ông Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim D phải chịu 13.097.446 VNĐ (Mười ba triệu không trăm chín mươi bẩy nghìn bốn trăm bốn mươi sáu đồng) khoản tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại cổ phần C không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 6.225.462VNĐ (Sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000534 ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn ông Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai (02);
  • - Chi cục THADS thành phố Lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/KDTM-ST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Viettin - Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger