|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày 28/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nhất
Ông Bùi Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Minh - Kiểm sát viên; Ông Lê Hữu N - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/HSST-QĐ ngày 28/7/2023.
Đối với bị cáo: Lê Ngọc V, sinh ngày 25/4/1996, tại: Xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn S; con bà Lê Thị H; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không;
Tiền án:
+ Ngày 11/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Ngày 17/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt ngày 24/12/2020, chưa được xoá án tích.
- Về nhân thân: Tại Bản án số 02/2023/HS-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, xử phạt Lê Ngọc V 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 26/10/2022, chấp hành xong ngày 26/8/2023. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn S1, sinh năm 1969. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1982; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng chiều ngày 22/10/2022, ông Lê Văn S1, sinh năm: 1969, trú tại: Thôn T, xã T, điều khiển xe máy biển kiểm soát 36L5-5790, nhãn hiệu WAIT, màu đen đi từ nhà đến khu vực bãi ngô của gia đình tại thôn C, xã Đ, huyện L để làm nông màu, ông để xe máy trên ở lề đường và đi vào bãi ngô để làm, đến khoảng 14h 30 phút cùng ngày thì phát hiện bị mất xe máy. Ông đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L trình báo sự việc.
Quá trình kiểm tra, xác minh và thu giữ các Camera an ninh tại nhà dân gần khu vực hiện trường vụ việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã phát hiện đối tượng Lê Ngọc V, sinh năm: 1996, ở thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, là người điều khiển xe mô tô của ông S1 nên đưa V về trụ sở để làm việc. Nhận dạng qua bản ảnh, V thừa nhận mình là người điều khiển chiếc xe máy của ông S1, nhưng không thừa nhận hành vi trộm cắp xe máy của ông Lê Văn S1. Lê Ngọc V khai rằng: Trưa ngày 22/10/2022, V đi xe khách từ huyện B về huyện L. Khoảng 14 giờ cùng ngày V về đến thôn C, xã Đ, huyện L, rồi xuống xe đi bộ vào nhà bạn ở thôn T, xã T, nhưng không gặp được bạn nên ra về. V đi ra khỏi nhà người bạn, theo hướng đến Quốc lộ A, khi cách ngã 3 đường giao giữa Quốc lộ A A và đường đi vào thôn T, xã T, khoảng 100m thì V gặp 01 người đàn ông không quen biết, đi xe mô tô Sirius, biển kiểm soát xe có đầu số 61, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,70m, dáng gầy, mặc áo dài tay màu xanh, quần màu đen, người này nhờ và trả công cho Văn 150.000đ để V điều khiển chiếc xe máy (xe của ông S1) đi đến huyện B, V đồng ý, người này đi trước V khoảng 100 m để dẫn đường và theo cung đường, hướng đi đến huyện B.
Tại Kết luận giám định số: 1006/KL-KTHS, ngày 08/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Trong một đĩa DVD gửi giám định có 01 tệp video mang tên: “1.mp4" dung lượng 860 KB (880,640 bytes), độ dài: 25 giây.
- Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 đĩa DVD gửi giám định.
- Mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục.
Tại Kết luận giám định số: 1007/KL-KTHS, ngày 08/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Trong 01 đĩa DVD gửi giám định có 02 tệp video mang tên: “1.mp4" dung lượng 48.4 MB (50,822,620 bytes), độ dài: 10 phút 00 giây; "2.mp4" dung lượng 11.0 MB (11,578,410 bytes), độ dài: 02 phút 34 giây.
- Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 đĩa DVD gửi giám định.
- Mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục.
Tại Kết luận giám định số: 1008/KL-KTHS, ngày 08/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Trong một đĩa DVD gửi giám định có 01 tệp video mang tên: “1.mp4" dung lượng 169 MB (177,427,537 bytes), độ dài: 11 phút 16 giây.
- Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 video của 01 đĩa DVD gửi giám định.
- Mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 25/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô của ông Lê Văn S1 tính thành Tiền Ngân hàng N1 tại thời điểm bị mất trộm là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Quá trình xác minh, điều tra, phân tích, đánh giá chứng cứ đã thu giữ, xác định được: Trong khoảng thời gian liên quan đến vụ việc, V là người điều khiển chiếc xe máy biển kiểm soát 36L5-5790 của ông Lê Văn S1, không có người đàn ông đi xe mô tô Sirius, biển kiểm soát xe có đầu số 61, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,70m, dáng gầy, mặc áo dài tay màu xanh, quần màu đen, đi trước Văn khoảng 100 m và theo cung đường, hướng đi đến huyện B như V mô tả, khai báo, là người đã thuê V điều khiển chiếc xe mô tô của ông S1 đi đến huyện B, tình tiết liên quan đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra để làm rõ. Ngoài ra, V là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định và có 02 tiền án, 01 nhân thân về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội “Trộm cắp tài sản”. Có đủ luận cứ khẳng định không có ai khác ngoài Lê Ngọc V là người lấy xe máy của ông Lê Văn S1. Quá trình xác minh, điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho Lê Ngọc V, V không có ý kiến gì về các quyết định tố tụng nhưng vẫn ngoan cố, quanh co chối tội, không thừa nhận việc lấy xe máy của ông S1.
Về vật chứng thu giữ, xử lý: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thông báo truy tìm xe mô tô nêu trên nhưng không có kết quả, do đó không thu giữ được.
Về dân sự: Bị hại Lê Văn S1 yêu cầu Lê Ngọc V bồi thường số tiền 1.200.000 đồng nhưng đến nay V chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSLC ngày 02/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh đã truy tố: Bị cáo Lê Ngọc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có hành vi lấy xe của bị hại đi như nội dung bản cáo trạng đã nêu, nhưng không thừa nhận hành vi trộm cắp của mình mà khai nhận do có người không quen biết nhờ bị cáo đi hộ.
Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.200.000 đ.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc V từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 1.200.000 đ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi lấy tài sản của anh S1 mà không chứng minh được người nhờ bị cáo đi hộ là hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Mặc dù bị cáo không thừa nhận mục đích ban đầu của bị cáo là trộm cắp tài sản, mà bị cáo cho rằng do có người đàn ông không quen biết nhờ bị cáo đi hộ xe đến huyện B, tỉnh Thanh Hóa và trả công bằng tiền. Tuy nhiên quá trình xác minh, điều tra, phân tích, đánh giá chứng cứ đã thu giữ, xác định được: Trong khoảng thời gian liên quan đến vụ việc, V là người điều khiển chiếc xe máy biển kiểm soát 36L5-5790 của ông Lê Văn S1, không có người đàn ông đi xe mô tô Sirius, với các đặc điểm nhận dạng như V mô tả (là người đã nhờ V đi xe hộ). Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Ngày 22/10/2022 Lê Ngọc V đã có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy của ông Lê Văn S1 có giá trị 1.200.000 đ. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, bị cáo có 01 tiền án về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong ngày 24/12/2020, chưa được xoá án tích. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, động cơ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, đồng thời còn ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án: Ngày 11/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh xử phạt 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 17/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; có 01 tiền sự: Ngày16/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh xử phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”;
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo không thành khẩn, không nhận tội nên HĐXX không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về các tội xâm phạm quyền sở hữu. Do vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh, bắt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị chiếc xe là 1.200.000 đ.
[7] Về vật chứng của vụ án: Không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc V phạm tội “trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Văn S1 số tiền 1.200.000 đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 12/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 12/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: avgsadgv
