Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ HUOAI

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 28/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Lập
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trịnh Hữu Vĩnh
Ông Nguyễn Mạnh Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Quyên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Hà Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường khu phố E thị trấn M, huyện Đ. Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lưu động công khai ngoài trụ sở Tòa án, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi ngày xét xử vụ án số 11/TB-TA ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Tấn Đ, sinh ngày 28/7/1992, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: số nhà G, đường Đ, tổ dân phố E, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn Đ1, sinh năm 1969 và bà Trương Thị Ú, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có ; bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Trương Văn Đ1, sinh năm 1969; nơi cư trú: số G, đường Đ, tổ dân phố E, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Do nghiện chất ma túy nên vào ngày 27/02/2024, Trương Tấn Đ (Đ) đi xuống huyện T, tỉnh Đồng Nai mua một tép ma túy đá với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm ngàn đồng) của một người đàn ông mà Đ hoàn toàn không biết rõ nhân thân và lai lịch, mục đích để về sử dụng cho bản thân. Sau đó Đ luôn cất giấu và cất giữ trái phép tép ma túy đá này ở trên người của Đ. Đến 16 giờ 00 phút ngày 29/02/2024 tại Thôn A, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, khi Đ đang cầm nắm giữ tép ma túy đá này ở trong lòng bàn tay trái và đang điều khiển xe máy biển số 49L1-13940 lưu thông trên đường T về hướng ngã ba thị trấn M thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với công an xã M bắt quả tang và tạm giữ, niêm phong 01 đoạn ống hút nhựa màu trong suốt kích thước dài 3cm, rộng 1cm được hàn bịt kín hai đầu, bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá cùng một số đồ vật, tài liệu, tài sản khác của Đ để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại Tổ dân phố E, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã phát hiện tạm giữ, niêm phong các dụng cụ sử dụng ma túy của Đ. Tại Cơ quan điều tra Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

- Tại bản Kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 02/03/2024 của phòng K Công an tỉnh L. Kết luận: “Mẫu tinh thể đựng trong đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2279 (không phẩy hai hai bảy chín), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của chính phủ”.

* Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu:

  • - 0,2279 gam (không phẩy hai hai bảy chín gam) quá trình giám định đã sử dụng còn 0,1006 gam (không phẩy một không không sáu gam), kèm theo bao gói vật chứng trước giám định được niêm phong.
  • - Một ví da màu nâu, không có nhãn hiệu;
  • - Số tiền 1.308.000đ (một triệu ba trăm lẻ tám nghìn đồng)
  • - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trương Tấn Đ.
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009883 mang tên Trương Tấn Đ.
  • - 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Trương Tấn Đ.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, màn hình cảm ứng;
  • - 01 xe máy biển số 49L1-13940, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen, số máy: G3D4E1006942, số khung: RLCUG1010KY235907;
  • - 01 túi niêm phong mã số MS 32143904 bên trong chứa:
    • + 01 hộp nhựa màu đen kích thước: dài 15cm – rộng 5cm – cao 4cm, rỗng bên trong;
    • + 01 ống thủy tinh màu trong suốt, rỗng bên trong, dài 14cm, một đầu có bình bầu tròn, trên bình bầu tròn có một lỗ hình tròn;
    • + 01 quẹt gas màu xanh, nhãn hiệu Viva, bên trong còn gas;
    • + 01 nắp chai nhựa màu vàng, ở trên nắp chai có đục hai lỗ tròn, một lỗ tròn được gắn một đoạn ống hút nhựa màu trong suốt dài 2cm;
    • + 01 ống hút nhựa màu trong suốt, dài 31cm;
    • + 01 ống hút nhựa màu đỏ – trắng, dài 21cm;
    • + 01 kéo kim loại màu bạc, dài 10,5cm, loại hai lưỡi cắt.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-ĐH ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trương Tấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật như cáo trạng đã nêu; xác định Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; không bị oan sai; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án.

Tại phần tranh luận bị cáo không tranh luận, tự bào chữa gì cho bị cáo, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh và mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và phải chấp hành hình phạt tù nên đề nghị không phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý theo luật định.
  • Các vấn đề khác:
    • + Về đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục điều tra và xác minh xử lý sau là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ người làm chứng ông Nguyễn Thanh H (ông H) đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, xét thấy việc vắng mặt của ông H không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Do vậy, căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về xác định tội danh: Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản bắt quả tang, biên bản niêm phong tài liệu đồ vật bị tạm giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, tại đường T thuộc Thôn A, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Mađaguôi bắt quả tang Trương Tấn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, thu giữ 01 đoạn ống hút nhựa bịt kín hai đầu với tổng khối lượng ma túy có khối lượng 0,2279 (không phẩy hai hai bảy chín), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của chính phủ. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự, song bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét khi lượng hình.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2279 (không phẩy hai hai bảy chín), loại Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra - truy tố - xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có bác ruột là ông Trương Thanh H1 được Nhà nước công nhận là Liệt sĩ, do vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Tại phiên Tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù là đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc đối với vị cáo.

[6] Về quyết định hình phạt: Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; mức hình phạt theo đề nghị của viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về đối tượng người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục điều tra và xác minh xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng trong vụ án:

+ Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo mà vật chứng đó cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên thu tiêu hủy gồm:

  • - 02 (hai) phong bì được niêm phong có chữ ký họ tên “Phạm Thị D”, “Lại Thanh Anh T”, “Đinh Xuân P” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L”. Bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,1006g.
  • - 01 túi niêm phong mã số NS3 2144000.
  • - 01 túi niêm phong mã số NS2 2121958.
  • - 01 túi niêm phong mã số NS 32143904 bên trong có: 01 hộp nhựa màu đen kích thước: dài 15cm - rộng 5cm - cao 4cm, rỗng bên trong; 01 ống thủy tinh màu trong suốt, rỗng bên trong, dài 14cm, một đầu có bình bầu tròn, trên bình bầu tròn có một lỗ hình tròn; 01 quẹt gas màu xanh, nhãn hiệu Viva, bên trong còn gas; 01 nắp chai nhựa màu vàng, ở trên nắp chai có đục hai lỗ tròn, một lỗ tròn được gắn một đoạn ống hút nhựa màu trong suốt dài 2cm; 01 ống hút nhựa màu trong suốt, dài 31cm; 01 ống hút nhựa màu đỏ - trắng, dài 21 cm; 01 kéo kim loại màu bạc, dài 10,5 cm, loại hai lưỡi cắt.

+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự vật chứng liên quan đến quyền nhân thân của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo:

  • - Số số tiền 1.308.000đ (một triệu ba trăm lẻ tám nghìn đồng).
  • - 01 xe máy biển số 49L1-13940, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen, số máy: G3D4E1006942, số khung: RLCUG1010KY235907;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, màn hình cảm ứng.
  • - 01 ví da màu nâu, không có nhãn hiệu; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trương Tấn Đ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009883 mang tên Trương Tấn Đ; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Trương Tấn Đ.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Tấn Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • + Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy gồm: 02 (hai) phong bì được niêm phong có chữ ký họ tên “Phạm Thị D”, “Lại Thanh Anh T”, “Đinh Xuân P” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L”. Bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,1006g; 01 túi niêm phong mã số NS3 2144000; 01 túi niêm phong mã số NS2 2121958; 01 túi niêm phong mã số NS 32143904 bên trong có: 01 hộp nhựa màu đen kích thước: dài 15cm - rộng 5cm - cao 4cm, rỗng bên trong; 01 ống thủy tinh màu trong suốt, rỗng bên trong, dài 14cm, một đầu có bình bầu tròn, trên bình bầu tròn có một lỗ hình tròn; 01 quẹt gas màu xanh, nhãn hiệu Viva, bên trong còn gas; 01 nắp chai nhựa màu vàng, ở trên nắp chai có đục hai lỗ tròn, một lỗ tròn được gắn một đoạn ống hút nhựa màu trong suốt dài 2cm; 01 ống hút nhựa màu trong suốt, dài 31cm; 01 ống hút nhựa màu đỏ - trắng, dài 21 cm; 01 kéo kim loại màu bạc, dài 10,5 cm, loại hai lưỡi cắt.
    • + Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Hoàn trả lại cho bị cáo Trương Tấn Đ số tiền 1.308.000đ (một triệu ba trăm lẻ tám nghìn đồng); 01 xe máy biển số 49L1-13940, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen, số máy: G3D4E1006942, số khung: RLCUG1010KY235907; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, màn hình cảm ứng; 01 ví da màu nâu, không có nhãn hiệu; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trương Tấn Đ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009883 mang tên Trương Tấn Đ; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Trương Tấn Đ.

    (Các vật chứng trên hiện đang được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Phiếu ủy nhiệm chi giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước huyện Đ ngày 13/6/2024)

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
  • - VKSND huyện Đạ Huoai (01);
  • - CQĐT - Công an huyện Đạ Huoai (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Đạ Huoai (01);
  • - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai (02);
  • - UBND thị trấn Mađaguôi (01);
  • - Bộ phận theo dõi THA phạt tù (04);
  • - Bị cáo (01);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Án văn (03);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lập

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử có tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger