Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA H’DRAI

TỈNH KON TUM

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phú Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Đào và ông Vi Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai và điểm cầu thành phần tại Hội trường Công an huyện I, Toà án nhân dân huyện Ia H'Drai đã đưa ra xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 08/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nay V. Tên gọi khác: B. Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1989 tại: tỉnh Gia Lai. Nơi đăng ký HKTT: 174 P, tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Ja Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nay G (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1965. Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: 02 tiền án (Ngày 14/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Chư Sê - tỉnh Gia Lai tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất độc”; nộp 200.000đ án phí HSST. Ngày 28/06/2010 bị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm sửa tội danh về tội “Sử dụng, mua bán trái phép chất độc”, giữ nguyên hình phạt. Ngày 22/9/2010 chấp hành xong hình phạt chính (Đến năm 2021 được miễn chấp hành án phí). Ngày 20/7/2016 bị TAND Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 08 (tám) năm tù – với tình tiết “tái phạm” về tội “Trộm cắp tài sản”; nộp 200.000đ án phí HSST; 925.000đ án phí DSST; buộc nộp sung quỹ Nhà nước 14.625.000đ. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa thực hiện các nghĩa vụ khác của bản án ngày 20/7/2016. Đến tháng 11/2023 đã phạm tội mới nên bị cáo chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 21/11/2023 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Từ Quốc B1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: 188 N, tổ G, phường D, Tp P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt);

- Người làm chứng:

1. Ông Tống Thanh T. Sinh năm 1976. Địa chỉ: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. (Có mặt);

2. Ông Lê Anh T1. Sinh năm 1979. Địa chỉ: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt có lý do);

3. Ông Mai Văn B2. Sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum. (Có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/11/2023, Đội Đặc nhiệm - Phòng PCMT&TP - Bộ đội biên phòng tỉnh K cùng Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh K phối hợp cùng Đồn biên phòng S tổ chức tuần tra trên địa bàn; khi đến vị trí có tọa độ 48252 -65105, bản đồ UTM WGS, tỉ lệ 1/50.000 (thuộc địa phận Thôn G - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum, cách đường biên giới Việt Nam - Campuchia về phía Việt Nam khoảng 105m) thì phát hiện 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, màu trắng BKS: 81A-131.60 đang di chuyển theo hướng đường biên giới vào nội địa có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Tuy nhiên, đối tượng điều khiển xe bỏ chạy. Tổ công tác tiến hành truy đuổi khoảng 50m thì khống chế và dừng xe để kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra trên xe có 01(một) người đàn ông tên N1; SN: 20/9/1989; trú tại: A P - Phường H - Tp . - tỉnh Gia Lai. Tiến hành kiểm tra phương tiện phát hiện ở hàng ghế sau xe có 04 (bốn) bao tải xác rắn được thắt nút ở miệng bao và 02 (hai) túi ni lông màu đen được thắt nút ở miệng bao. Tổ công tác yêu cầu N1 tự mở 04 (bốn) bao tải xác rắn và 02 (hai) túi ni lông nêu trên thì phát hiện:

Trong 04 (bốn) bao tải xác rắn có chứa 32 (ba mươi hai) hộp giấy được dán kín, kích thước 17x17x10cm, bên ngoài mỗi hộp có nhiều chữ nước ngoài, màu sắc sặc sỡ, ký hiệu T4049 nghi là pháo nổ; và 01(một) hộp giấy không nhãn hiệu được gián kín, kích thước 17x17x10cm nghi là pháo nổ. Trong 02 (hai) túi ni long màu đen chứa 09 (chín) hộp giấy được dán kín, kích thước 17x17x10cm, bên ngoài mỗi hộp có nhiều chữ nước ngoài, màu sắc sặc sỡ, ký hiệu T4049 nghi là pháo nổ. Tổng cộng bên trong 04 (bốn) bao tải xác rắn và 02 (túi) ni long màu đen có chứa 42 (bốn mươi hai) hộp giấy được dán kín, kích thước 17x17x10cm, bên ngoài mỗi hộp có nhiều chữ nước ngoài, màu sắc sặc sỡ, ký hiệu T4049 nghi là pháo nổ. Tổ công tác đã đưa người, tang vật và phương tiện về Đồn biên phòng S để xác minh làm rõ. Vụ việc sau đó được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh K thụ lý, giải quyết.

Tại Bản Kết luận giám định số 1016/KL-KTHS ngày 25/11/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh G kết luận: 41 (bốn mươi mốt) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, bên trong mỗi hộp hộp đều có 49 (bốn mươi chín) lỗ tròn, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau; 01 (một) khối hộp, có 49 (bốn mươi chín) lỗ tròn, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau và nối sợi dây màu xanh đựng trong 03 (ba) thùng giấy các tông chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 73,2 kg.

Ngày 28/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nay Vũ G1 về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại Điều 191 BLHS và tiếp tục tiến hành điều tra, làm rõ. Vụ án sau đó được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện I để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện I, Nay V khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/11/2023 G1 được Tống Thanh T; SN: 1976; trú tại: Thôn N - xã Y - tỉnh Ninh Bình liên hệ và thuê G1 đi chở pháo trên địa bàn huyện I thì G1 đồng ý. Sáng ngày 21/11/2023 G1 gọi điện cho Từ Quốc B1; SN: 1993; trú tại: Tổ G - phường D - Tp . - tỉnh Gia Lai thuê B1 chở mình lên huyện I để chở hàng với số tiền 03 triệu đồng (bao gồm tiền công mà trước đó G1 còn nợ khi thuê B1 chở đi chơi tại huyện C chiều ngày 20/11/2023). Sau khi G1 gọi điện, B1 điều khiển xe ô tô BKS: 81A-131.60 chở G1 từ thành phố P, tỉnh Gia Lai đi huyện I, tỉnh Kon Tum. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày cả hai đến khu vực M thuộc địa phận xã I - huyện I - tỉnh Gia Lai; tại đây G1 gặp Lê Anh T1; SN: 1979; trú tại: Tổ A - phường H - Tp . - tỉnh Gia Lai và được T1 rủ đi chơi, G1 nói B1 vào quán cà phê ngồi đợi. T1 điều khiển xe ô tô của mình chở G1 vào xã I để chơi, đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày cả hai quay lại quán cà phê gặp B1, lúc này T1 đi về. Tại đây cả hai ngồi được khoảng 15 phút thì T đến gặp G1 và đề cập đến việc đã trả cho vợ chồng T2 số tiền 10 triệu đồng, cứ chạy vô dốc Hòa Lậu để bốc hàng, đồng thời cho G1 số điện thoại của T2 và nói khi nào T2 gọi thì vào bốc hàng (pháo lậu). Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày T2 gọi điện cho G1 nói vào bốc hàng. G1 nói B1 chở mình vào khu vực lô cao su dốc Hòa Lậu thuộc Thôn G - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum, khi vào gần đến nơi G1 nói “đi chuyến này là đánh đổi cả cuộc đời” và nói là đi chở pháo, B1 không nói gì. Đến nơi G1 xuống xe gặp người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch), tại đây G1 nói B1 chạy xe ra ngã ba đứng đợi còn G1 vào gặp T2 nhưng khi gặp T2 thì được biết chưa có hàng và sau đó rời đi. G1 đợi một lúc nghĩ mình bị lừa nên nhắn tin chửi T2, đồng thời quay lại xe và nói B1 chở mình về Gia Lai. Trên đường đi G1 không nói gì liên quan đến pháo nữa; khi ra đường bê tông thì gặp Mai Văn B2; SN: 1974; trú tại: Tổ H - phường Y - Tp . - tỉnh Gia Lai, do có quen biết từ trước nên cả hai hỏi thăm nhau và B2 hẹn uống cà phê gần nhà B2 thuộc Thôn H - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum. Khi đến quán, B1 để xe ở gần ngã ba cách quán khoảng 50m rồi cùng G1 vào uống cà phê với B2. Trong lúc ngồi uống cà phê thì điện thoại của G1 hết pin nên G1 mượn chìa khóa xe ô tô của B1 ra xe để sạc pin. Khi ra xe ngồi sạc được khoảng 05 phút thì T2 gọi lại cho G1 nói đã có pháo, vì thấy điện thoại B1 trên xe ô tô nên G1 gọi điện cho T1 nhờ nói B1 ra xe chở đi nhưng nghe B1 nói qua điện thoại của T1 là “Em không chở đi nữa, kêu anh đó đi đi”, G1 sau đó tiếp tục ngó đầu ra xe gọi B1 thì B1 nói “Anh cứ đi đi”, nghĩ B1 nói là lấy xe tự đi nên G1 tự điều khiển xe vào chỗ đã hẹn tại lô cao su trước đó. Đến nơi G1 gặp T2 và một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), tại đây T2 và người đàn ông mở cửa xe và bốc bốn bao tải xác rắn được thắt nút ở miệng bao và hai túi ni lon màu đen được thắt nút ở miệng bao bên trong có chứa pháo để ở hàng ghế sau xe. Sau khi nhận pháo, G1 chạy xe về hướng Gia Lai thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện I, G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-Ia H'Drai ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai đã truy tố bị cáo Nay Vũ G2 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g, l khoản 2 Điều 191 BLHS.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm g, l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nay Vũ Giang từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/11/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ: 36 (ba mươi sáu) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, tổng khối lượng 62,7 kg được niêm phong trong 03 (ba) thùng giấy các tông có các chữ ký ghi họ tên Huỳnh Duy T3, Trần Hoàng N, Phạm Thanh T4, Đinh Khắc T5Hoàng Vũ T6. (Theo Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ hồi 14 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Kho vật chứng – Đại đội kho vũ khí đạn – BCH QS tỉnh K); 04 (Bốn) bao xác rắn, trong đó: 01 bao xác rắn màu đỏ, 01 bao xác rắn màu xanh, 02 bao xác rắn màu trắng dùng để đựng pháo hoa nổ; 02 (hai) túi nilon màu đen dùng để đựng pháo hoa nổ; 01 thẻ sim Vinaphone; 01 thẻ sim Viettel.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu nâu đen, hiệu NOKIA đã qua sử dụng, màn hình bị nứt (không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong).

Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, màu trắng BKS: 81A-13160; xe bị nứt kính chắn gió phía trước, bể kính chắn gió bên phải (vị trí bên phụ xe); xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong cùng các giấy tờ có liên quan; 01 (một) thẻ nhớ, mặt trước có nhãn hiệu: Lexar, ký hiệu mặt sau có số: L026144 được thu giữ tại thiết bị camera hành trình của xe ô tô BKS: 81A-13160 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màn hình cảm ứng, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Bên trong thân máy có chứa 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao: 0357.690.xxx và 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao: 0914.229.xxx của Từ Quốc Bảo: Quá trình điều tra đã xác định B1 chỉ là lái xe taxi và không liên quan đến việc G2 vận chuyển pháo. Do đó, việc Cơ quan CSĐT Công an huyện I đã trả lại các tài liệu, đồ vật trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Từ Quốc Bảo là có căn cứ nên không đề cập.

Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nay Vũ G2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến tranh luận gì. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều không bị mớm cung, ép cung hay dùng nhục hình buộc phải nhận tội.

Lời khai của người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đúng với những gì đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện I.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên huyện I trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng là ông Lê Anh T1 vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, họ đã có giấy báo xin xét xử vắng mặt, có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 21/11/2023, bị cáo đã điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, màu trắng BKS: 81A-13160 của ông Từ Quốc B1 đi đến khu vực lô cao su thuộc Thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum để nhận pháo từ các đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) sau đó vận chuyển đi về Gia Lai thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Tại Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh G xác định số tang vật thu giữ và được niêm phong là: pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 73,2 kg (Bảy ba phẩy hai kilôgam).

Trước lần phạm tội này, bị cáo đã có 02 tiền án và đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm”; hiện chưa được xóa án tích do chưa chấp hành xong các nghĩa vụ khác của bản án ngày 20/7/2016 của TAND thành phố Pleiku. Do đó, bị cáo phải chịu thêm tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 BLHS. Như vậy, tổng hợp hành vi và hậu quả, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi vận chuyển 73,2 kg pháo hoa nổ của bị cáo Nay Vũ G2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm g, l khoản 2 Điều 191 BLHS như như Cáo trạng số 10/CT-VKS-Ia H'Drai, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Sử dụng, mua bán trái phép chất độc” vào năm 2010. Sau đó, lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xử phạt 08 (tám) năm tù vào ngày 20/7/2016, chưa được xoá án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, sau khi chấp hành xong hình phạt tù của các bán án trước, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, buộc phải cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo đang bị tạm giam, không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Ngoài ra, đối với Từ Quốc Bảo, là lái xe taxi, chở G2 lên huyện I, khi chở G2 đến lô cao su, tại thôn G xã I mặc dù có nghe G2 nói là đi chở pháo nhưng chỉ nghĩ là G2 nói đùa và thực tế ở thời điểm này hoàn toàn không có việc G2 lấy pháo hay hàng hóa gì khác cả, B1 không biết, không tham gia hay bàn bạc vấn đề gì liên quan đến việc vận chuyện pháo. Do đó, không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Từ Quốc B1.

Đối với Tống Thanh T: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo khai nhận người đã thuê bị cáo đi vận chuyển pháo vào ngày 21/11/2023, gặp bị cáo tại quán cà phê tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai và đưa số điện thoại của đối tượng T2 để bị cáo liên hệ vận chuyển pháo là Tống Thanh T. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, T khai nhận chỉ có mối quan hệ quen biết với bị cáo chứ không biết và liên quan đến hành vi vận chuyển pháo của bị cáo, cũng không biết đối tượng nào tên T2. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh, đối chất nhưng không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh vai trò của T trong vụ án. Mặt khác, đối tượng tên T2 và một người đàn ông đi cùng T2 là hai đối tượng giao, bốc pháo lên xe cho bị cáo, qua điều tra xác minh vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch các đối tượng trên. Do đó, chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Tống Thanh T, Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Lê Anh T1Mai Văn B2: Chỉ là người quen ngoài xã hội của bị cáo, hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

Đối với các đối tượng liên hệ và giao pháo cho bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận có liên hệ với người đàn ông tên T2 để chở pháo, tại thời điểm bốc pháo bị cáo gặp T2 và một người đàn ông đi cùng và được hai đối tượng trên bốc pháo lên xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên. Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau nên không đề cập.

Đối với số điện thoại 0354.367.xxx bị cáo khai của người đàn ông tên T2: Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại trên do ông Kso K, sinh ngày 01/01/1967, nơi thường trú: Làng P, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai đứng tên đăng ký. Ông Kso K không sử dụng và không biết số thuê bao trên được đăng ký tên mình, hoàn toàn không biết và không liên quan gì đến hành vi vận chuyển pháo của bị cáo. Do đó, không có cơ sở để xử lý.

Trong vụ án này còn có việc Từ Quốc Bảo đã trình báo Công an xã I về việc bị cáo lấy xe của B1. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo và B1 đều thừa nhận chỉ là hiểu nhầm, không có động cơ, mục đích gì khác, bản thân bị cáo không có ý định chiếm đoạt tài sản. Do đó, việc Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối với bị cáo về hành vi này là có căn cứ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Từ Quốc B1 đã nhận lại tài sản là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, màu trắng BKS: 81A-13160, không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ tang vật của bị cáo đã được niêm phong gồm: 36 (Ba mươi sáu) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, tổng khối lượng 62,7 kg (khối lượng còn lại sau khi giám định), được niêm phong trong 03 thùng giấy các tông có các chữ ký ghi họ tên của: Huỳnh Duy T3, Trần Hoàng N, Phạm Thanh T4, Đinh Khắc T7Hoàng Vũ T6; 04 (Bốn) bao xác rắn, trong đó: 01 bao xác rắn màu đỏ, 01 bao xác rắn màu xanh; 02 bao xác rắn màu trắng dùng để đựng pháo hoa nổ; 02 (hai) túi nilon màu đen dùng để đựng pháo hoa nổ. Các vật chứng nêu trên là vật cấm lưu hành (hàng cấm), vật đựng chất cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động cảm ứng màu nâu đen, hiệu NOKIA đã qua sử dụng, màn hình bị nứt (không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong) là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao: 0947.597.xxx và 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao: 0347.791.xxx, là công cụ bị cáo dùng để liên lạc trong quá trình vận chuyển pháo, cần tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim Vinaphone và 01 thẻ sim Viettel là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nay V phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

- Áp dụng Điều 38; điểm g, l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo N1 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2023.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 36 (Ba mươi sáu) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, tổng khối lượng 62,7 kg (khối lượng còn lại sau khi giám định), được niêm phong trong 03 thùng giấy các tông có các chữ ký ghi họ tên của: Huỳnh Duy T3, Trần Hoàng N, Phạm Thanh T4, Đinh Khắc T7Hoàng Vũ T6; 04 (Bốn) bao xác rắn, trong đó: 01 bao xác rắn màu đỏ, 01 bao xác rắn màu xanh; 02 bao xác rắn màu trắng dùng để đựng pháo hoa nổ; 02 (hai) túi nilon màu đen dùng để đựng pháo hoa nổ; 01 thẻ sim Vinaphone và 01 thẻ sim Viettel.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu nâu đen, hiệu NOKIA đã qua sử dụng, màn hình bị nứt (không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 của Công an huyện I với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia H'Drai).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nay Vũ G2 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/5/2024) bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Ia H'Drai;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - CCTHA DS huyện Ia H'Drai;
  • - Công an huyện Ia H'Drai;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - TAND cấp cao tại Đà nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra - TANDTC;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phú Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger