Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đình Túy

Bà Trịnh Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa –Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện sát nhân dân huyện Đ gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân A – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐST- DS ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1989 (vắng mặt)

    Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khu phố Đ, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Lan H, sinh năm: 1988 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Khu phố Đ, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện tại: thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04/3/2024 và bản tự khai anh Nguyễn Hữu N trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Lan H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán vào tháng 3/2009, nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Phạm Thị Lan H.

- Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010, hiện nay cháu M đang ở cùng anh. Anh có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và công nợ: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai chị Phạm Thị Lan H trình bày: Chị V anh Nguyễn Hữu N chung sống với nhau từ năm 2009 tại khu phố Đ, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống đến năm 2023 chị bị bệnh nên chị về quê tại thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống từ đó cho đến nay. Nay anh Nguyễn Hữu N xin ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010, hiện nay cháu M đang ở cùng anh N. Nguyện vọng chị G cháu M cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Chị yêu cầu Tòa án giải quyết 02 xe mô tô, ti vi, máy giặt và các vật dụng khác trong gia đình.

Tại bản tự khai ngày 20/3/2024 cháu Nguyễn Hữu M trình bày: Hiện nay cháu đang ở với bố tịa khu phố Đ, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, nay bố mẹ cháu ly hôn nguyện vọng cháu xin được ở với bố.

Ngày 26/3/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa: UBND thị trấn xác nhận: Theo sổ lưu đăng ký kết hôn từ năm 2007 cho đến nay không có tên anh Nguyễn Hữu N và Phạn Thị Lan H1 đã đăng ký kết hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 26/3/2024 tại khu phố Đ, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Chính quyền địa phương cho biết: Anh Nguyễn Hữu N và chị Phạm Thị Lan H chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn. Anh chị chung sống với nhau mâu thuẫn như thế nào thì anh chị không báo cáo với chính quyền địa phương nên chính quyền địa phương không biết, chị H bỏ đi từ năm 2022 cho đến nay. Anh N chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010, hiện nay cháu M đang ở cùng anh N. Anh N chị H có những tài sản gì và nợ ai, cho ai vay thì chính quyền địa phương không biết.

Anh N chị H đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của kiểm sát viên: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt..

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16; khoản 2 Điều 53; Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

  • - Về hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Hữu N và chị Phạm Thị Lan H là vợ chồng.

  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của chị Phạm Thị Lan Hương. Giành quyền khởi kiện cho chị H bằng vụ án khác.

  • - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn hữu N có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn của anh và chị Phạm Thị Lan H, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh N, chị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu N và chị Phạm Thị Lan H kết hôn trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn.

Anh N chị H thống nhất về điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian vợ chồng mâu thuẫn, chị H cũng thừa nhận tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, sống không có hạnh phúc anh N xin ly hôn chị H cũng đồng ý ly hôn anh N.

Biên bản xác minh ngày 26/9/2024 tại UBND thị trấn, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa trong Sổ lưu đăng ký kết hôn từ 2007 cho đến nay không có tên anh Nguyễn Hữu N và chị Phạm Thị Lan H đã đăng ký kết hôn. Vì vậy, không có cơ sở xác định anh N chị H đã đăng ký kết hôn, nên đây không phải là hôn nhân hợp pháp. Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận anh Nguyễn Hữu N và chị Phạn Thị Lan H1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị H1 và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010, hiện nay cháu M đang ở cùng anh N. Anh N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu M và anh không yêu cầu chị hương cấp dưỡng nuôi con chung, Cháu M cũng có nguyện vọng được ở với anh N, Chị H1 có nguyện vọng giao cháu M cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, để đảm bảo cho cháu M được nuôi dưỡng tốt, để cho cháu phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và đang học tập ổn định. Nên cần giao cháu M cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Hữu N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản lấy lời khai chị Phạm Thị Lan H đưa ra yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng nhưng chị không không làm đơn yêu cầu chia tài sản và chị cũng không cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho chị H bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

[3] Về án phí: Anh Nguyễn Hữu N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16; khoản 2 Điều 53; Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  • - Không công nhận anh Nguyễn Hữu N và chị Phạm Thị Lan H là vợ chồng.

  • - Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu M, sinh ngày 05/8/2010. Giao cháu Nguyễn Hữu M cho anh Nguyễn Hữu N trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi cháu M.

  • Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  • - Về tài sản: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của chị Phạm Thị Lan H. Dành quyền khởi kiện cho chị H bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

  • - Về án phí: Anh N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo biên lai thu ký hiệu BLTU/23 số 0001932 ngày 06/3/2024. Anh N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

  • - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Đông Sơn;
  • - UBND thị trấn Rừng Thông;
  • - CQ Thi hành án huyện Đông Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger