|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-PT Ngày 26-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Hải Yến
Ông Vũ Quang Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2024/QĐXXPT ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị H; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số A Đường số H, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Như Đ; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số G T, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Như Đ là bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm của nguyên đơn có nội dung:
Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Như Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/02/2011. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại số G T, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống. Vì vậy, từ năm 2015 chị vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, vợ chồng ly thân cho đến nay, hai bên không còn quan hệ tình cảm với nhau, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng. Nay, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Huy V, sinh ngày 03/5/2011. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Như Đ trình bày: Anh thống nhất với chị H về thời gian, điều kiện kết hôn. Anh và chị H không có mâu thuẫn. Vợ chồng luôn hòa thuận, hạnh phúc. Anh luôn yêu thương và ủng hộ chị H trong công việc. Năm 2014, vợ chồng anh phát hiện con Nguyễn Huy V bị tự kỷ. Anh chị đã đưa con đi chữa trị tại một số nơi nhưng cháu rất chậm cải thiện. Đầu năm 2018, vợ chồng anh bàn bạc để chị H chuyển công tác vào miền nam, để tiện đưa con vào miền nam chữa bệnh. Anh vẫn chuyển tiền cho chị H chữa bệnh cho con. Bệnh của cháu V có cải thiện, nên vợ chồng anh nhất trí để con ở nhà chị gái chị H, nhờ chị gái chị H trông giúp và xin cho cháu Vũ h tại Trung tâm giáo dục hỗ trợ hòa nhập tỉnh Đ. Cháu Vũ học ở đây sức khỏe tốt, tình hình bệnh có cải thiện. Anh vẫn thường xuyên vào thăm con. Từ năm 2021 đến năm 2023 do dịch bệnh Covid-19 và bố anh ốm, nên anh không vào thăm con được. Anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Đ và chị H có 01 con chung như chị H trình bày. Anh không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến gì về vấn đề con chung. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
2
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Như Đ.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Huy V, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2011 cho chị Chu Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Chu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/02/2024, bị đơn anh Nguyễn Như Đ có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST. Anh Đ đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, để vợ chồng cùng nhau điều trị bệnh cho con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký; các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm đúng quy định. Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ chứng cứ, quyết định của bản án sơ thẩm đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hồi đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình đúng quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đã xác định đúng và đầy đủ đương sự tham gia tố tụng. Kháng cáo của bị đơn hợp lệ, đủ điều kiện xem xét phúc thẩm.
3
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Như Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Từ khoảng năm 2017 đến nay, chị H sinh sống ở miền nam, không còn chung sống với anh Đ. Chị H trình bày vợ chồng sống ly thân do có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh Đ trình bày vợ chồng không có mâu thuẫn, chị H vào miền nam sinh sống để tiện chữa bệnh cho con. Hội đồng xét xử xét mục đích của hôn nhân là tạo dựng một gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; và phải xuất phát từ cả hai phía vợ và chồng. Vợ chồng chị H, anh Đ đã không còn chung sống với nhau trong thời gian dài, tình cảm vợ chồng xa cách. Chị H trình bày không còn tình cảm và kiên quyết xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp nào cải thiện quan hệ vợ chồng. Xét hôn nhân của chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm quyết định cho chị H ly hôn với anh Đ là có căn cứ theo khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về nuôi con: Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ không ý kiến. Xét cháu V đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, được đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Mặt khác, cháu V có nguyện vọng được ở với chị H. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về chia tài sản: Chị H và anh Đ đều không yêu cầu giải quyết nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[2.4] Từ các nhận định [2.1] đến [2.3], Hội đồng xét xử phúc thẩm xét không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Như Đ. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Như Đ.
Về nuôi con: Giao con chung Nguyễn Huy V sinh ngày 03/5/2011 cho chị Chu Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Như Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007344 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
3. Các quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
6
Bản án số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm
