Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PƯH
TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tiến Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Xuân Toàn,
  2. Bà Nguyễn Thị Mừng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Niên, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T, sinh ngày 02/9/1983 tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 08/7/2021; Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1953 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1958; Bị cáo có vợ là Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1998 và 02 người con, lớn sinh năm 2023, nhỏ sinh ngày 06/4/2024.

Nhân thân: Tại bản án số 14 ngày 18/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Ngày 27/6/2013, chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nay K, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại anh Nay K1 (đã chết):

  1. Chị Nay H, sinh năm 1996 (là vợ của anh Nay K1); Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Bà Nay H1, sinh năm 1973 (là mẹ đẻ của anh Nay K1); Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn dân sự: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  1. Anh Siu K2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: TDP B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  5. Anh Phạm Sơn N3, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  6. Bà Lê Thị T3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  7. Anh Siu V, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

+ Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu Thun P - Dân tộc Jrai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 55 phút ngày 08/12/2023, Nguyễn Duy T (SN: 02/9/1983, trú: thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) có giấy phép lái xe hạng E theo quy định, trực tiếp điều khiển xe ô tô khách BKS: 47H - 034.20 (nhãn hiệu: Thaco, loại xe: Ô tô khách giường nằm, màu sơn: xanh-trắng) đi trên đường H theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai. Khi đến km 1650 đường H thuộc địa phận P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai, lúc này, T điều khiển xe ô tô chạy với tốc độ khoảng 60km/h và đi bên phần đường phải theo chiều đi của mình. Khi đó, T phát hiện phía trước cách xe ô tô do T điều khiển khoảng 300m có một chiếc xe ô tô khác đang đi theo chiều ngược lại bên phần đường trái và bật đèn chiếu xa làm Tình bị chói mắt, hạn chế tầm nhìn. Thấy vậy, T đạp nhẹ phanh để tốc độ xe ô tô giảm xuống còn khoảng 55km/h. Khi khoảng cách giữa xe ô tô đang chạy ngược chiều nêu trên và xe ô tô do T điều khiển cách nhau khoảng 100m thì lúc này T phát hiện phía trước cách đầu xe ô tô do T điều khiển khoảng 04m có anh Nay K1 (SN: 01/3/1990, trú: P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai) đang đi bộ chéo qua đường từ phần đường trái sang phần đường phải, chếch theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai (theo hướng xe ô tô do T điều khiển lưu hành) ở khu vực giữa tim đường thì T đạp phanh và đánh lái sang phải để tránh nhưng vì khoảng cách gần, không xử lý kịp nên phần đầu xe ô tô bên trái (bên tài) do T điều khiển đã tông vào anh K1 làm anh K1 bị văng sang phần đường bên trái, còn xe ô tô do T điều khiển di chuyển thêm một đoạn rồi dừng lại bên phần đường phải theo hướng xe ô tô do T điều khiển lưu hành.

Hậu quả: Anh Nay Kap chết tại chỗ, xe ô tô bị hư hỏng.

Sau tai nạn xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại km 1650 đường H thuộc địa phận P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Hiện trường không còn nguyên vẹn do sự di chuyển qua lại của các phương tiện đã làm ảnh hưởng đến hiện trường; các dấu vết, tử thi và phương tiện liên quan còn tại hiện trường. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường được trải nhựa thẳng, phẳng, mặt đường rộng 10,9m, có vạch sơn vàng không liên tục kẻ giữa tim đường. Tiến hành khám nghiệm và đo vẽ về bên mép đường bên phải tính theo hướng từ Đắk Lắk đi Gia Lai có các dấu vết như sau:

  • Trên mặt đường trái phát hiện vết (1) là khu vực mảnh vỡ linh kiện bao gồm mảnh nhựa, kính nằm vương vãi trên khu vực, có diện (21,68 x 4,1)m. Đo từ tâm vết (1) đến mép đường phải là 8,75m, đo từ tâm vết (1) đến đầu vết (2) là 1,15m.
  • Vết (2) là vết máu, màu nâu, nằm trên mặt đường trái, bên trong khu vực vết (1), hình vòng cung, không liên tục, có kích thước dài 09m, chỗ rộng nhất là 0,2m. Đo từ đầu vết (2) đến mép đường phải là 08m, đo từ cuối vết (2) đến mép đường phải là 9,1m, đo từ cuối vết (2) đến đầu tử thi (3) là 0,44m. Vết (2) có chiều hướng đẩy từ phải sang trái.
  • Vết (3) là tử thi, nằm sấp trên mặt đường trái và song song so với mặt đường, đầu quay hướng Gia Lai, chân quay hướng Đắk Lắk. Đo từ chân phải tử thi (3) đến mép đường phải là 9,45m, đo từ đỉnh đầu tử thi (3) đến mép đường phải là 9,6m, đo từ đỉnh đầu tử thi (3) đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 47H - 034.20 (4) là 27,75m.
  • Xe ô tô 47H - 034.20 (4) sau tai nạn dừng đứng yên trên mặt đường phải trong trạng thái động cơ đang hoạt động, đầu xe quay hướng Gia Lai, đuôi xe quay hướng Đắk Lắk. Đo từ tâm trục bánh sau bên phải đến mép đường phải là 2,4m, đo từ tâm trục bánh trước bên phải đến mép đường phải là 2,3m.

Trên cơ sở khám nghiệm tử thi, tại Kết luận giám định tử thi số 1085 ngày 15/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của anh Nay K1 là: Chấn thương sọ não.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 08/12/2023 của Công an huyện C đối với Nguyễn Duy T thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của T là: 0,000 miligam/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với T là âm tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 22/12/2023 của Sở giao thông vận tải tỉnh G kết luận: Xe ô tô biển số đăng ký 47H - 034.20 tại thời điểm giám định, xe có các hệ thống, tổng thành, chi tiết liên kết chắc chắn, đảm bảo tính năng hoạt động (trừ các hư hỏng do tai nạn giao thông).

Tại Kết luận định giá tài sản số 92 ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe ô tô khách BKS: 47H - 034.20 là 12.200.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án:

  • Đối với xe ô tô khách BKS: 47H - 034.20 (nhãn hiệu: Thaco, loại xe: Ô tô khách giường nằm, màu sơn: xanh-trắng), quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn N1 (SN: 1982, trú: thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý giao trả chiếc xe trên cho anh Lê Văn N1 nhận. Sau khi nhận lại tài sản, anh Lê Văn N1 không có yêu cầu gì khác.
  • Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 20/3/2019 mang tên Nguyễn Duy T mà Cơ quan CSĐT Công an huyện C chuyển theo hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh đã ra Quyết định xử lý giao trả giấy phép lái xe trên cho Nguyễn Duy T.

* Về trách nhiệm dân sự:

Sau sự việc xảy ra, Nguyễn Duy T đã bồi thường cho gia đình bị hại Nay Kap số tiền 110.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nay Kap là bà Nay H1 và chị N4 H’Bưn, đều trú tại P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai (là mẹ và vợ của Nay K1) đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Duy T.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T từ 12 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về phần dân sự: Không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Không đề cập giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và có lời nói sau cùng, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo để nuôi vợ con mới sinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Vào lúc 20 giờ 55 phút ngày 08/12/2023, bị cáo có giấy phép lái xe hạng E, đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47H – 034.20, đi ở phần đường bên phải theo hướng đi từ Đắk Lắk đến Gia Lai, khi đi đến km A đường H thuộc địa phận thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai, vận tốc của xe ô tô khoảng 60km/h. Do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã tông vào anh Nay K1 đang đi bộ chéo qua đường từ trái sang phải theo hướng đi của xe ô tô, hậu quả làm anh Nay K1 chết tại chỗ và thiệt hại vật chất đối với xe ô tô nêu trên là 12.200.000 đồng. Trong vụ tai nạn giao thông này lỗi chính thuộc về bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy T vi phạm vào khoản 5 Điều 4, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 2, khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy T là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả làm 01 người chết. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng, được đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, có 02 con nhỏ, vợ không có việc làm do mới sinh con (ngày 06/4/2024), được chính quyền địa phương và trung tâm y tế huyện K xác nhận. Mặc khác trong vụ án này thì bị hại cũng có một phần lỗi là khi qua đường thiếu chú ý quan sát và không đi đúng vạch ưu tiên dành cho người đi bộ khi qua đường. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Để thể hiện sự nhân đạo trong chính sách pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội do vô ý. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình đã gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo, không làm phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không gây ảnh hưởng tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Do đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về dân sự: Các bên đương sự đã thỏa thuận, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý tại giai đoạn điều tra và truy tố, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T 15 (mười lăm) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/4/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Duy T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/4/2024) bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKS huyện Chư Pưh;
  • - Công an huyện Chư Pưh;
  • - Chi Cục THA DS huyện Chư Pưh;
  • - UBND xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu HS.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Võ Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Duy T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger