Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 12/2024/DS-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp về hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Duy Viên;
  2. Ông Nguyễn Hữu Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự số 55/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V2); địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) & tầng 2, Tòa nhà S - Số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Ngọc D, ông Nguyễn Đức H, ông Vũ Văn T và bà Phạm Thị Tú U (Văn bản uỷ quyền số 181641.24 ngày 29-8-2024); ông D và ông H vắng mặt; ông T và bà U có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; biệt tích từ đầu năm 2023, Toà án đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Xuân T2, sinh năm 1958; bà Vũ Thị T3, sinh năm 1944 và chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1993; cùng nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt; chị V1 biệt tích từ đầu năm 2023, Toà án đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Phạm Thị Tú U trình bày:

Ngày 13-5-2021, Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng) và anh Vũ Văn T1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 934.HĐTD1.012.21 (Hợp đồng tín dụng) với nội dung: Số tiền vay 760.000.000 đồng; mục đích vay: Sửa chữa nhà (không thay đổi kết cấu); thời hạn vay: 180 tháng; phương thức cho vay: Từng lần; lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,1%/năm; phương thức trả nợ: Trả nợ gốc vào ngày 15 hàng tháng.

Ngày 22-6-2021, anh Vũ Văn T1 ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế (Thẻ tín dụng), được phê duyệt ngày 26-06-2021, hạn mức thẻ: 70.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, Ngân hàng và anh T1 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 934.HĐTC1.012.21 ngày 13-5-2021 (Hợp đồng thế chấp). Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng thửa đất 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² và tài sản trên đất; địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) số BĐ 126812, vào sổ cấp GCN số H 02629 ngày 29-4-2011 của Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện T cấp cho anh Vũ Văn T1; được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Hải Phòng; số công chứng 2652/2021, Quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho anh T1 số tiền vay nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 15-3-2023 anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 14-8-2024, anh T1 đã trả cho Ngân hàng số tiền 246.189.898 đồng (trong đó: Nợ gốc 97.129.000đ, nợ lãi 148.777.330đ, lãi phạt 283.568đ); còn nợ 1.013.707.535 đồng, trong đó: Nợ gốc 726.626.728 (gồm 662.871.000đ theo hợp đồng tín dụng và 63.755.728 đồng theo thẻ tín dụng), tiền lãi 287.080.807 đồng (gồm 42.565.221đ lãi trong hạn, 167.266.433đ lãi quá hạn, 77.249.153đ lãi/phí thẻ tín dụng).

Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng anh T1 vắng mặt tại nơi cư trú, không hợp tác, cố tình chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết. Việc làm trên của anh T1 đã gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  1. Buộc anh Vũ Văn T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 1.036.264.683 đồng; trong đó nợ theo Hợp đồng tín dụng là 891.040.929 đồng (gồm nợ gốc 662.871.000đ, lãi trong hạn 42.565.221đ, lãi quá hạn 185.604.708đ) và nợ theo thẻ tín dụng là 145.223.754 đồng (gồm nợ gốc 63.755.728đ, nợ lãi 61.468.026 đ, phí 20.000.000đ).
  1. Trong trường hợp anh T1 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ. Nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp còn thừa thì bên thế chấp có quyền nhận lại phần còn thừa tương ứng. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.

Theo hồ sơ thế chấp, thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng thửa đất 1102, tờ bản đồ 07 thì trên đất chỉ có 01 nhà một tầng, diện tích sàn khoảng 52m², diện tích tầng tum khoảng 37m²; tổng diện tích xây dựng thực tế khoảng 47.25m², kết cấu bê tông, độ rộng mặt tiền 6,2m; không thể hiện các thông tin tài sản khác. Theo kết quả Toà án xem xét, thẩm định tại chỗ, ngoài tài sản nêu trên, trên thửa đất 1102 còn có 01 lán tôn trước nhà, 01 lán nhựa là tài sản của anh T1 đầu tư, xây dựng; 01 nhà một tầng diện tích sàn 11,78m²; 01 nhà bếp diện tích sàn 17,4m²; bể nước và tường bao gạch chỉ phía cuối đất là tài sản của bà Vũ Thị T3 đầu tư, xây dựng. Quan điểm của Ngân hàng là các tài sản của anh T1 xây dựng trên thửa đất đã thế chấp là tài sản thế chấp; đối với các tài sản của bà T3 xây dựng và đang quản lý, sử dụng, trường hợp sau này Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp sẽ thanh toán giá trị tài sản cho bà Vũ Thị T3 theo kết quả định giá tài sản.

Ngân hàng không có ý kiến gì về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí tố tụng.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Vũ Xuân T2, bà Vũ Thị T3) thống nhất trình bày:

Do làm ăn thua lỗ nên từ đầu năm 2023 vợ chồng anh Vũ Văn T1, chị Nguyễn Thị V1 đã bỏ đi làm ăn xa; ông bà không biết hiện nay anh chị đang ở đâu, làm gì. Đến đầu tháng 9 năm 2024 anh T1 mới nhắn tin vào điện thoại của ông T2 hỏi thăm về tình hình gia đình, ông T2 đã thông báo cho anh T1 biết là Tòa án đang giải quyết việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh trả nợ nếu không sẽ phát mại tài sản thế chấp; anh T1 đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để anh trả nợ dần, anh đang đi làm ăn xa, không về được.

Hiện nay trên thửa đất 1102, tờ bản đồ 07 có ông Vũ Xuân T2, cháu Vũ Phú D1, sinh năm 2012 (là bố đẻ và con trai anh T1) và bà Vũ Thị T3 (cô ruột anh T1) đang sinh sống. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân anh T1. Tài sản trên đất là nhà chính mái BTCT (nhà B1), 01 lán tôn trước nhà, 01 lán nhựa là do anh T1 đầu tư, xây dựng. Các tài sản khác như nhà một gian mái bằng, khu phụ, bể nước, lán tôn phía sau nhà là do bà T3 đầu tư, xây dựng. Ông T2 và cháu D1 không đóng góp công sức, tiền của gì vào việc tạo dựng các tài sản này. Bà T3 già yếu, sống nhờ lương hưu nên không có khả năng nhận chuyển nhượng phần đất đã thế chấp cho Ngân hàng; đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho bà Vũ Thị T3.

Đối với bị đơn là anh Vũ Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị V1: Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh T1, chị V1 vắng mặt tại địa phương nên Tòa án đã có Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với hai người này.

Xác minh tại UBND xã K, huyện T thể hiện: Thửa đất số 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho anh Vũ Văn T1; quá trình sử dụng đất không tranh chấp gì với các chủ sử dụng đất liền kề.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (kèm sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và phương án tính giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất) thể hiện:

Các đương sự thống nhất xác định: Quyền sử dụng thửa đất số 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² và tài sản trên đất gồm nhà mái bằng BTCT (nhà B1), lán lợp tôn lạnh khung sườn sắt (L1), mái tôn trên nóc nhà - lán lợp tôn nhựa sáng khung sườn sắt là tài sản của anh Vũ Văn T1, không liên quan đến người nào khác.

Các tài sản do bà Vũ Thị T3 đầu tư, xây dựng gồm: Bể nước gạch chỉ 110 có nắp; tường bao gạch chỉ 100 có bổ trụ; nhà gạch chỉ tường 110 mái BTCT (nhà B2) và nhà bếp 1 mái gạch chỉ 110 (L2); có tổng giá trị 100.834.503 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vắng mặt nhiều lần không có lý do nên đã không chấp hành các điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về hợp đồng tín dụng.

Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 130, Điều 209, Điều 212, khoản 1 Điều 218, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 500, Điều 501, Điều 502, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 29 Điều 3, Điều 179 của Luật Đất đai 2013; Điều 27, Điều 37, Điều 131 của Luật Đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 14-12-2017. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q. Buộc bị đơn là anh Vũ Văn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 1.036.264.683

đồng. Trong đó: Đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng là 891.040.929 đồng (gồm nợ gốc là 662.871.000 đồng, lãi trong hạn là 42.565.221 đồng, lãi quá hạn là 185.604.708 đồng); đối với khoản vay Thẻ tín dụng quốc tế là 145.223.754 đồng (gồm nợ gốc là 63.755.728 đồng, nợ lãi là 61.468.026 đồng, phí là 20.000.000 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Vũ Văn T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 934.HĐTD1.012.21 ngày 13-5-2021 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 22-6-2021.

- Trường hợp anh Vũ Văn T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² và tài sản trên đất; địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 126812, số vào sổ cấp GCN số H 02629 ngày 29-4-2011 của Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Vũ Văn T1 (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đấy số 934.HĐTC1.012.21 ngày 13-5-2021).

Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản nêu trên phải thanh toán cho bà Vũ Thị T3 phần giá trị tài sản gắn liền với đất là 100.834.503 đồng.

Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp của anh Vũ Văn T1 không đủ trả hết khoản nợ trên thì anh Vũ Văn T1 phải có nghĩa vụ trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp của anh Vũ Văn T1 sau khi trả hết khoản nợ trên mà còn thừa thì Ngân hàng TMCP Q phải trả cho anh Vũ Văn T1 phần giá trị thừa này.

- Về chi phí tố tụng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 43.087.940 đồng. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là anh Vũ Văn T1 phải trả số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng đã ký kết. Bị đơn là anh Vũ Văn T1 và tài sản thế chấp đều có địa chỉ tại xã K, huyện T. Đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại.

[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn là anh Vũ Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Xuân T2, bà Vũ Thị T3, chị Nguyễn Thị V1 vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1, ông T2, bà T3 và chị V1.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về yêu cầu trả nợ: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Ngày 13-5-2021, Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng) và anh Vũ Văn T1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 934.HĐTD1.012.21 với nội dung: Số tiền vay 760.000.000 đồng; mục đích vay: Sửa chữa nhà (không thay đổi kết cấu); thời hạn vay: 180 tháng; phương thức cho vay: Từng lần; lãi suất tại thời điểm cho vay: 10,1%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 17-5-2021, Ngân hàng đã giải ngân cho anh T1 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 934.01.KUNN1.012.21 số tiền 760.000.000 đồng. Ngày 22-6-2021, anh T1 ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế, được phê duyệt ngày 26-06-2021, hạn mức thẻ: 70.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, thẻ tín dụng từ ngày 15-3-2023 anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 25-9-2024, anh T1 mới trả cho Ngân hàng số tiền 246.189.898 đồng (trong đó gốc 97.129.000 đồng, lãi 148.777.330 đồng, lãi phạt 283.568 đồng); còn nợ tổng số tiền 1.036.264.683 đồng; trong đó nợ theo Hợp đồng tín dụng là 891.040.929 đồng (gồm nợ gốc 662.871.000 đồng, lãi trong hạn 42.565.221 đồng, lãi quá hạn 185.604.708 đồng) và nợ theo thẻ tín dụng là 145.223.754 đồng (gồm nợ gốc 63.755.728 đồng, nợ lãi 61.468.026 đồng, phí 20.000.000 đồng).

[4] Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng giữa Ngân hàng và anh T1 được ký kết bởi những người có thẩm quyền và có năng lực hành vi sự, khi giao kết hợp đồng, thẻ tín dụng các bên tự nguyện, không bị ép buộc, hình thức và nội dung hợp đồng, thẻ tín dụng không vi phạm các điều cấm, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy, hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng trên là hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện. Vì vậy, căn cứ các điều 116, 117, 118 119, 385, 398, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng và Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30-6-2016 của Ngân hàng N chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 1.036.264.683 đồng; trong đó nợ theo hợp đồng tín dụng là 891.040.929 đồng (gồm nợ gốc 662.871.000 đồng, lãi trong hạn 42.565.221 đồng, lãi quá hạn 185.604.708 đồng) và nợ theo thẻ tín dụng là 145.223.754 đồng (gồm nợ gốc 63.755.728 đồng, nợ lãi 61.468.026 đồng, phí 20.000.000 đồng).

[5] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là quyền sử dụng thửa đất 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² và tài sản trên đất; địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 126812, số vào sổ cấp GCN: H 02629 ngày 29-4-2011 của Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Vũ Văn T1. Việc thế chấp tài sản đã được lập thành Hợp đồng thế chấp tài sản số 934.HĐTC1.012.21 ngày 13-5-2021 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng, bên thế chấp là anh Vũ Văn T1. Hợp đồng thế chấp được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C, thành phố Hải Phòng; số công chứng 2652/2021, Quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD. Tại Điều 9 của Hợp đồng thế chấp nêu trên các bên thoả thuận “Bên B sẽ bị coi là vi phạm các điều khoản của hợp đồng này nếu bất kỳ sự kiện nào dưới đây xẩy ra: Bên B không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán; bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng tín dụng ...; bên B trốn tránh khỏi địa phương hoặc bỏ trốn ...”. Do đó, trường hợp anh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại các điều 292, 293, 295, 299, 303 của Bộ luật Dân sự.

[6] Về xử lý tài sản gắn liền với đất khi phát mại tài sản thế chấp: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định trên thửa đất 1102, tờ bản đồ 07 nêu trên ngoài các tài sản là nhà mái bằng BTCT (nhà B1), lán lợp tôn lạnh khung sườn sắt (L1), mái tôn trên nóc nhà - lán lợp tôn nhựa sáng khung sườn sắt do anh T1 đầu tư xây dựng. Còn có các tài sản do bà Vũ Thị T3 đầu tư, xây dựng và hiện đang quản lý sử dụng gồm: Bể nước gạch chỉ 110 có nắp; tường bao gạch chỉ 110 có bổ trụ; nhà gạch chỉ tường 110 mái BTCT (nhà B2) và nhà bếp 1 mái gạch chỉ 110 (L2), có tổng giá trị theo kết quả định giá là 100.834.503 đồng.

Căn cứ lời khai của các đương sự, kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án cho thấy các tài sản này do bà Vũ Thị T3 xây dựng trước thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp nhưng khi thẩm định Ngân hàng không mô tả tài sản trên đất, không lấy ý kiến của bà T3. Đây là trường hợp Ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất nhưng trên đất có tài sản của bên thứ ba, không được thế chấp. Như vậy, mặc dù Hợp đồng thế chấp là hợp pháp nhưng theo hướng dẫn tại Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 14-12-2017 thì khi phát mại tài sản bảo đảm, bà T3 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng (mua) quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đang sử dụng nếu bà Vũ Thị T3 có nhu cầu mua.

Vì vậy, khi phát mại tài sản thế chấp nêu trên phải thanh toán cho bà Vũ Thị T3 phần giá trị tài sản gắn liền với đất là 100.834.503 đồng. Số tiền còn lại dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của anh T1 với Ngân hàng; nếu thừa trả lại cho anh T1, nếu thiếu anh T1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[8] Về chi phí tố tụng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết quyết về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 130, Điều 209, Điều 212, khoản 1 Điều 218, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 500, Điều 501, Điều 502, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 29 Điều 3, Điều 179 của Luật Đất đai 2013; Điều 27, Điều 37, Điều 131 của Luật Đất đai năm 2024;

- Căn cứ Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q. Buộc bị đơn là anh Vũ Văn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25-9-2024 là 1.036.264.683 (Một tỷ không trăm ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn sáu trăm tám mươi ba) đồng. Trong đó: Đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng là 891.040.929 (T4 trăm chín mươi mốt triệu không trăm bốn mươi nghìn chín trăm hai mươi chín) đồng (gồm nợ gốc là 662.871.000 đồng, lãi trong hạn là 42.565.221 đồng, lãi quá hạn là 185.604.708 đồng); đối với khoản vay Thẻ tín dụng quốc tế là 145.223.754 (Một trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi tư) đồng (gồm nợ gốc là 63.755.728 đồng, nợ lãi là 61.468.026 đồng, phí là 20.000.000 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Vũ Văn T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 934.HĐTD1.012.21 ngày 13-5-2021 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 22-6-2021.

  1. Trường hợp anh Vũ Văn T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 1102, tờ bản đồ 07, diện tích 161m² và tài sản trên đất; địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 126812, vào sổ cấp GCN số H 02629 ngày 29-4-2011 của Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Vũ Văn T1 (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đấy số 934.HĐTC1.012.21 ngày 13-5-2021).

Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản nêu trên phải thanh toán cho bà Vũ Thị T3 phần giá trị tài sản gắn liền với đất là 100.834.503 (Một trăm triệu tám trăm ba mươi tư nghìn năm trăm linh ba) đồng.

Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp của anh Vũ Văn T1 không đủ trả hết khoản nợ trên thì anh Vũ Văn T1 phải có nghĩa vụ trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp của anh Vũ Văn T1 sau khi trả hết khoản nợ trên mà còn thừa thì Ngân hàng TMCP Q phải trả cho anh Vũ Văn T1 phần giá trị thừa này.

  1. Về án phí:

Anh Vũ Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 43.087.940 (Bốn mươi ba triệu không trăm tám mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.760.000 (Mười bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008913 ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HĐTD VIB T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger