|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/DS-ST Ngày: 25/4/2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Liêm
- Bà Đoàn Thị Kim Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Mạch Văn Hiểu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tú A, sinh năm: 1986 (có mặt).
- Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, Hậu Giang.
- - Bị đơn: Chị Lâm Thị Hồng C, sinh năm: 1985 (có mặt).
- Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, Hậu Giang.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1981 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, Hậu Giang.
- Anh Lê Văn M, sinh năm: 1982 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
- - Người làm chứng:
- Ông Lê Văn T, sinh năm: 1967 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1966 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Ấp F, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị Tú A (gọi tắt là chị Tú A) trình bày:
Do chổ quen biết làm ăn nên vào năm 2020 chị Tú A và chị Lâm Thị Hồng C có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị B phần đất có diện tích ngang trước khoảng 17m, ngang sau 12m, dài khoảng 45m, phần đất tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Chị Tú A và chị C thống nhất là phần đất của chị Tú A là ngang trước giáp lộ là 11m ngang sau là 6m, phần còn lại của chị C. Hai bên đã giao đủ tiền cho bên chuyển nhượng và bên chuyển nhượng đã giao đất cho để chị Tú A và chị C sử dụng. Tuy nhiên, do chị Tú A ở xa và vì dịch bệnh Covid -19 bùng phát nên việc đi lại khó khăn, nên nhờ chị C làm dùm, nhưng chị C tự ý đi thực hiện thủ tục sang tên toàn bộ phần đất trên cho chị C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi biết chị C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị Tú A đã nhiều lần yêu cầu chị C tách phần đất của chị Tú A lại, nhưng chị C cứ hẹn lần rồi không thực hiện, nay chị Tú A có nhu cầu cất nhà ở, nên tiến hành cặm mốc ranh giữa hai bên thì chị C lại ngăn cản không cho chị Tú A sử dụng đất và cho rằng toàn bộ phần đất này là của chị C đã mua và định vào trồng cây trên đất nhưng Tú A ngăn cản nên phát sinh tranh chấp. Mặc dù hai bên đã thương lượng, tự hòa giải nhưng không giải quyết được.
Vì vậy nay chị Tú A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Lâm Thị Hồng C trả cho chị Tú A phần đất có diện tích ngang trước giáp đường nội ô trung tâm huyện 11m, ngang sau là 06m, dài khoảng 44m mà chị C đang chiếm và tách quyền sử dụng đất cho chị Tú A đối phần đất này.
Bị đơn chị Lâm Thị Hồng C (gọi tắt chị C) trình bày:
Chị C thừa nhận vào năm 2020 chị và chị Tú A có thỏa thuận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị B một phần đất diện tích ngang trước khoảng 17m, ngang sau 12m, dài khoảng 45m, với giá 1 tỷ đồng, khi sang đất thì giữa chị C và vợ chồng ông T đã làm xong thủ tục sang tên quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Do chị Tú A sắp sinh con và ở xa, với lại đang lúc dịch bệnh covid bùng phát mạnh nên chị Tú A không thể đi lại để làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất được nên nhờ chị C đứng tên dùm phần đất diện tích ngang trước 11m, ngang sau 6m dài khoảng 45m. Sau đó chị Tú A có gặp chị C để yêu cầu tách quyền sử dụng đất ra cho chị Tú A, chị C cũng đồng ý nhưng yêu cầu chị Tú A hỗ trợ lại chị C số tiền 20.000.000 đồng chi phí đi lại và đóng phí trước bạ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chị Tú A không đồng ý. Hơn nữa trong lúc đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị C cũng đang thế chấp vay tiền ngân hàng chưa có điều kiện trả tiền lấy giấy về nên xin chị Tú A từ từ làm thủ tục, nhưng chị Tú A không đồng ý nên hai bên phát sinh tranh chấp.
Nay chị Tú A khởi kiện yêu cầu chị C tách quyền sử dụng đất đối với phần đất này cho chị Tú A cũng đồng ý, nhưng chị C yêu cầu chị Tú A hỗ trợ chi phí đi lại và lệ phí trước bạ làm quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn M (gọi tắt là anh M) trình bày:
Anh M là chồng chị Lâm Thị Hồng C, anh M thống nhất với lời trình bày của chị C đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tú A, phần đất trên là tiền riêng của chị C có được trước khi kết hôn nên chị C có toàn quyền quyết định đối với phần đất nêu trên.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L (gọi tắt là anh L) trình bày:
Anh L là chồng chị Trần Thị Tú A, anh L thống nhất với yêu cầu khởi kiện của chị Tú A, ngoài ra anh L không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Thị Tú A yêu cầu bị đơn chị Lâm Thị Hồng C giao trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 308,5m² và tách quyền sử dụng đất cho chị Tú A theo quy định, chị Tú A không đồng ý hỗ trợ số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu chị C.
Tại phiên tòa, bị đơn Lâm Thị Hồng C đồng ý tách quyền sử dụng đất cho chị Tú A theo diện tích đo đạc thực tế, nhưng chị C yêu cầu chị Tú A hỗ trợ chi phí đi lại và lệ phí trước bạ làm quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý của đương sự, gửi hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên tòa đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử, thư ký ghi biên bản phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Tú A đối với bị đơn Lâm Thị Hồng C. Công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn Trần Thị Tú A đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 308,5m². Buộc bị đơn Lâm Thị Hồng C giao trả lại cho nguyên đơn phần đất được công nhận theo quy định.
Về án phí và chi phí tố tụng khác: Buộc các đương sự nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trần Thị Tú A khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Lâm Thị Hồng C trả lại phần đất đã chiếm diện tích theo đo đạc thực tế là 308,5m² và tách quyền sử dụng đất để nguyên đơn được đứng tên quyền sử dụng. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” được Bộ luật dân sự điều chỉnh. Phần đất tranh chấp tại ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang cùng với địa chỉ cư trú của bị đơn chị Lâm Thị Hồng C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L và anh Lê Văn M, người làm chứng ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị B đã được Toà án triệu tập để tham gia phiên toà xét xử nhưng có đơn yêu cầu vắng mặt, căn cứ theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nên trên nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất phần đất đang tranh chấp nằm tại một phần thửa 73, tờ bản đồ số 61, diện tích 308,5m² loại đất chuyên trồng lúa nước. Diện tích, hình thể, kích thước phần đất sau khi đo đạc được những người tứ cận không ai tranh chấp theo Mảnh trích đo số 03/SHC ngày 11/01/2024 của Công ty TNHH Đ.
Chị Tú A cho rằng năm 2020 có cùng chị Lâm Thị Hồng C chuyển nhượng phần đất của vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị B, phần đất ngang trước khoảng 17m, ngang sau 12m, dài khoảng 45m. Trong đó phần đất của chị Tú A là ngang trước giáp lộ là 11m ngang sau là 6m, phần còn lại là của chị C, vợ chồng ông T, bà B đã nhận đủ tiền, chị Tú A và chị C đã nhận đủ đất. Tuy nhiên, khi làm thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị Hồng C tự ý làm thủ tục để chị C đứng tên toàn bộ phần đất. Theo chị Tú A trình bày thì sau khi biết được sự việc chị Tú A có yêu cầu chị C tách lại phần diện tích đã nhận chuyển nhượng nhưng chị C không đồng ý. Còn chị C thì thừa nhận có việc cùng với chị Tú A để nhận chuyển nhượng phần đất của vợ chồng ông T, diện tích đúng như chị Tú A trình bày, nhưng lý do chị C được đứng tên toàn bộ phần đất là do chị Tú A nhờ đứng tên dùm, chị Tú A có gặp chị C để tách quyền sử dụng đất chị C cũng đồng ý nhưng yêu cầu chị Tú A phải hỗ trợ chi phí đi lại và đóng phí trước bạ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị C với số tiền là 20.000.000 đồng thì chị Tú A không đồng ý nên hai bên phát sinh tranh chấp.
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tú A, hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại bản tự khai của vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị B (gọi tắt là vợ chồng ông T) thì vào năm 2021 vợ chồng ông T có chuyển nhượng cho chị C và chị Tú A phần đất có diện tích ngang 12m dài hết đất, giá chuyển nhượng mỗi m ngang là 170.000.000 đồng, chị Tú A và chị C đã giao đủ tiền và nhận đất sử dụng. Sau đó, có địa chính xuống đo đạc và làm thủ tục tách quyền sử dụng đất, khi làm thủ tục tách giấy chứng nhận thì vợ chồng ông Tâm giao Giấy chứng nhận nhận cho chị Tú A và chị C tự làm, nên ông T không rõ chị Tú A và chị C thoả thuận như thế nào. Bị đơn chị Lâm Thị Hồng C cũng thừa nhận có việc chuyển nhượng đất như chị Tú A và vợ chồng ông T trình bày và hiện nay chị C là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sự thừa nhận của bị đơn chị Lâm Thị Hồng C là tình tiết không phải chứng minh bằng chứng cứ theo quy định tại Điều 92 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Từ đó, hội đồng xét xử xác định chị Tú A có chuyển nhượng đất của vợ chồng ông T và phần đất tranh chấp (tại vị trí II) diện tích theo đo đạc thực tế là 308,5m² tại một phần thửa 73, tờ bản đồ số 61, loại đất chuyên trồng lúa nước thuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07077 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 23/11/2022 cho chị Lâm Thị Hồng C là thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị Tú A. Ngoài ra, xét về hiện trạng sử dụng đất nhận thấy, từ sau khi chị Tú A nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông T, bà B thì chị Tú A là người trực tiếp quản lý và sử dụng một phần trong số diện tích đất đã chuyển nhượng, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án xác định, trên phần đất tranh chấp có căn nhà và một số công trình xây dựng gắn liền với đất là của chị Tú A xây dựng và sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai.
Tại phiên tòa, chị C đồng ý trả lại đất và tách quyền sử dụng đất cho chị Tú A, nên hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị Tú A và chị C tại phiên tòa.
[2.3] Xét yêu cầu của chị Lâm Thị Hồng C về việc yêu cầu chị Tú A hỗ trợ số tiền 20.000.000 đồng lệ phí trước bạ sang tên quyền sử dụng đất hội đồng xét xử thấy rằng: Thoả thuận các chi phí phát sinh trong quá trình lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị C là việc tự thoả thuận của hai bên, tuy nhiên việc chị C tự đi đăng ký quyền sử dụng đất bao trùm phần đất của chị Tú A mà không thông qua ý kiến chị Tú A nên đây là lỗi của chị C, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án, chị C không có đơn yêu cầu phản tố để yêu cầu chị Tú A trả lại số tiền này nên hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên toà là có cơ sở được hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5]. Đối với phần căn nhà và các công trình xây dựng khác theo biên bản xem xét thẩm định ngày12/10/2023 của Toà án ghi nhận trên phần đất tranh chấp là của chị Trần Thị Tú A xây dựng nên chị Tú A được tiếp tục quản lý sử dụng.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn chị Lâm Thị Hồng C có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
[4] Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 và Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tổng số tiền đo đạc thẩm định, định giá tài sản và trích lục hồ sơ là 6.950.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn chị Lâm Thị Hồng C có nghĩa vụ nộp số tiền 6.950.000 đồng để hoàn trả lại cho nguyên đơn chị Trần Thị Tú A.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 74; Điều 147; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 26, Điều 105, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tú A đối với bị đơn chị Lâm Thị Hồng C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị Tú A đối với phần đất có diện tích 308,5m² (tại vị trí số II) có các tứ cạnh sau: Ngang trước giáp đường nội ô trung tâm huyện Em: 9,3m + 1,71m; Ngang sau thửa 87 và thửa 68: 5m + 6m; Dài giáp thửa 68 và thửa 87: 4,99m + 7,76m + 31,69m; Dài giáp phần đất của chị Lâm Thị Hồng C đang quản lý sử dụng tại vị trí I: 4,99m + 39,54m.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Lâm Thị Tú A1 phải nộp tiền án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng. Nguyên đơn chị Trần Thị Tú A được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007046 phiếu lập ngày 01/8/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- - Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn chị Lâm Thị Hồng C có nghĩa vụ nộp số tiền 6.950.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho nguyên đơn chị Trần Thị Tú A.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
(Kèm theo Mảnh trích đo số 03/SHC ngày 11/01/2024 của Công ty TNHH Đ).
Chị Trần Thị Tú A được sử toàn bộ công trình vật kiến trúc có trên phần đất được công nhận quyền sử dụng.
Chị Trần Thị Tú A được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với phần đất được công nhận.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Ngoan |
Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 12/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông A yêu cầu ông C trả đất
