|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trí Dũng và ông Nguyễn Đức Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên toà: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS, ngày 11/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo;
Họ và tên: Vũ Văn S - Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1987
Tên gọi khác: Không
Nơi sinh: Huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Nơi cư trú: Khu F, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Nghề nghiệp: Lái xe Trình độ văn hoá; lớp 10/12
Dân tộc; Kinh. Giới tính; N. Tôn giáo; Không. Quốc tịch; Việt Nam
Con ông Vũ Văn S1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ
Có vợ là Lê Thị Bích P. Có 02 con; lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh 2018
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 đến ngày 11/4/2024. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt).
* Người bị hại: Bà Trần Thị S2; sinh năm 1957 (đã chết)
- Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại:
Ông Nguyễn Văn T; sinh năm 1967 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Doanh nghiệp tư nhân H3 do ông Đặng Văn H - Chủ doanh nghiệp đại diện
Địa chỉ: Khu G, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/01/2023, Vũ Văn S kí Hợp đồng lao động lái xe ôtô chở vật liệu xây dựng, hàng hóa cho Doanh nghiệp tư nhân H3 có địa chỉ tại khu G, xã M, huyện Đ do ông Đặng Văn H là chủ doanh nghiệp. Ngày 23/11/2023, S điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 19C-165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R-011.42 của Doanh nghiệp tư nhân H3 chở cát từ huyện Y, tỉnh Yên Bái về xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe ôtô đi đến đoạn Km 46+350 Tỉnh lộ 323, thuộc khu Đ, xã H, huyện Đ, hướng thị trấn Đ đi xã V. Đây là đoạn đường thẳng, 2 bên không có nhà dân, không có vật cản che khuất tầm nhìn, đường rộng 6,0m, mặt đường trải bê tông, tương đối bằng phẳng và cũng là đoạn đường có lối mở kết nối với đường liên xã H. Phía trước cùng chiều với xe ôtô do S điều khiển có 01 xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp, màu sơn xanh do bà Trần Thị S2 ở khu Đ, xã H, huyện Đ một mình điều khiển đi sát mép đường, ở phía đường bên trái phía trước xe đạp là 02 xe ôtô tải nối đuôi nhau di chuyển ngược chiều.
Khi 02 xe ôtô tải đi ở phần đường bên trái tiến đến đoạn ngang với xe đạp do bà S2 điều khiển, lúc này xe ôtô đầu kéo do S điều khiển cách xe đạp khoảng 15-20m, S bấm còi và tiếp tục điều khiển xe di chuyển. Khi 02 xe ôtô tải đi qua xe đạp do bà S2 điều khiển sau đó đi qua xe ôtô đầu kéo, thì S điều khiển phần đầu kéo di chuyển hơi chếch sang trái vượt lên gần đuôi xe đạp. Lúc này S không bấm còi, không có tín hiệu xin vượt xe. Trong khi vượt, phần tay lái bên trái xe đạp của bà S2 va chạm với tấm chắn bùn của hàng bánh đầu tiên bên phải xe ôtô đầu kéo do S điều khiển làm xe đạp bị đổ sang bên phải, bà S2 ngã ra lòng đường, hàng bánh bên phải của Rơ moóc tiến lên, chèn qua xe đạp, chèn qua vùng chân, tay bên phải và chèn ép phần ngực, bụng của bà S2. S nhìn qua gương chiếu hậu bên phải phát hiện bà S2 bị ngã đã ngay lập tức điều khiển xe ôtô đầu kéo trên dừng lại ở vị trí cách bà S2 khoảng 35 - 40,0m. Bà S2 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, cho đến trưa cùng ngày thì bà S2 tử vong.
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn, Công an huyện Đ đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện, khám nghiệm tử thi. Kết quả khám nghiệm như sau:
- Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hướng khám nghiệm từ thị trấn Đ đi xã V. Lấy mép đường bên phải Quốc lộ C làm mép chuẩn; lấy cột điện hạ thế số 372 E4 nằm bên trong lề đường bên phải làm vật chuẩn.
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc Km 46+350 Tỉnh lộ 323, đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, không bị khuất tầm nhìn, có lối mở kết nối với đường liên xã H. Mặt đường trải bê tông rộng 6,0m, tương đối bằng phẳng, hai chiều không có dải phân cách cố định, không có vạch sơn phân chia phần đường, làn đường. Tại hiện trường phát hiện 05 dấu vết liên quan đến vụ tai nạn được đánh số từ (01) đến (05). Kết quả đo đạc xác định được như sau:
- + Vị trí số 1: Vết cày xước mặt đường đứt đoạn có kích thước 0,75m x 0,6m. Điểm đầu của vết cách điểm mốc 24,5m, cách mép đường chuẩn 1,2m. Dóng vuông góc từ điểm đầu vết số 1 ra mép đường phải và lề đường phải theo chiều hướng thì trấn Đoan H1 đi xã V xác định có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên, cách nhau với điểm gióng vuông góc về đi xã V là 60,0cm;
- + Vị trí số 2: Xe đạp nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường Tỉnh lộ 323, đầu xe hướng vào trong lề đường, đuôi xe hướng ra ngoài tâm trục bánh sau của xe cách vị trí số 1 là 1,05m, cách mép đường chuẩn là 0,2m. T1 trục bánh trước của xe nằm trên lề cỏ cách mép đường chuẩn 0,45m;
- + Vị trí số 3: Vùng chất dịch màu nâu đỏ bám dính chất nhầy màu vàng nâu kích thước 0,3m x 0,9m, vị trí gần nhất của vết cách mép đường chuẩn 1,9m đo về hướng đi thị trấn Đ, cách mép trục bánh sau của vết thứ 2 là 1,2m;
- + Vị trí số 4: Vết chà sát mặt đường có bám dính chất dịch màu nâu đỏ kích thước 0,25 x 21m, điểm đầu của vết cách mép đường chuẩn 1,5m hướng đi thị trấn Đ cách điểm gần nhất của vị trí số 3 là 2,4m;
- + Vị trí số 5: Xe ô tô đầu kéo biển số 19C-165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R-011.42 đỗ trên đường T, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 0,45m đo về hướng đi thị trấn Đ cách điểm đầu của vết thứ 4 là 9,55m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 xe ôtô đầu kéo biển số 19C-165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R-011.42 cùng các giấy tờ liên quan và 01 xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp, màu sơn xanh.
- Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe ôtô đầu kéo biển số 19C-165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R-011.42.
- + Về giấy tờ: Xe tôtô đầu kéo và Rơ moóc đều có đăng ký mang tên Nguyễn Đức C, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường của xe ôtô đầu kéo biển số 19C-165.51 có hiệu lực đến hết ngày 28/5/2024, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường của Rơ moóc biển số 19R-011.42 có hiệu lực đến hết ngày 31/3/2024. Giấy bán xe ghi ngày mua bán là 08/11/2023 của chủ xe là anh Nguyễn Đức C bán cho anh Đặng Văn H.
- + Về dấu vết trên phương tiện: Mặt ngoài chắn bùn phía trước của hàng bánh đầu tiên bên phải xe đầu kéo vị trí bên dưới cánh cửa phụ có vết chà sát sạch bụi gồm 02 đường theo phương ngang song song. Đường bên trên kích thước 25 x 0,3cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 103,0cm. Đường bên dưới dài 13,0cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 94,0cm;
- Tại cạnh mép trong mặt ngoài chắn bùn phía sau của hàng bánh đầu tiên bên phải xe đầu kéo có vết chà sát sạch bụi dài 05cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 72,0cm, tiếp giáp vết chà sát trên tại mặt ngoài chăn bùn này có 01 vết chà sát sạch bụi, bám dính chất nhựa màu đen, kích thước 10 x 3cm, chiều hướng từ trước về sau;
- Mặt ngoài thanh chắn bảo hiểm bộ A bình, bình hơi bên phải xe đầu kéo có vết chà sát sạch bụi, kích thước 10 x 8cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 85,0cm;
- Má ngoài lốp xe bên phải, hàng bánh thứ nhất của Rơ moóc có vết chà sát sạch bụi, bám dính chất dịch màu đỏ vàng trên diện tích kích thước 50 x 20,0cm. Điểm gần nhất cách chân van 32,0cm. Trên bề mặt tiếp xúc mặt đất của lốp này bám dính vết chà sát sạch bụi bám dính chất dịch màu đỏ. Mặt ngoài lốp xe bên phải hàng bánh thứ 2 của Rơ moóc có vết chà sát sạch bụi bám dính chất dịch màu đỏ vàng trên diện tích kích thước 28 x 22,0cm. Điểm gần nhất cách chân van 60,0cm. Tại bề mặt tiếp xúc mặt đất lốp này bám dính nhiều chất dịch màu đỏ nâu;
- Ngoài ra về kỹ thuật an toàn phương tiện, hệ thống động cơ vô lăng, phanh đèn, còi gương lốp...hoạt động bình thường.
- - Chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp màu xanh đen: Giá xe bị móp méo, biến dạng, yên xe bị cong vênh biến dạng, bề mặt bị chà sát bám dính chất bột màu trắng, toàn bộ gacbaga cụm vành bánh sau bị cong vặn. Đầu giã đề chân của người ngồi sau bên trái có vết chà sát bám dính chất bột màu trắng kích thước 01cm x 02cm;
- Đầu núm tay lái bên trái có vết chà sát, điểm thấp nhất cách mặt đất 95,0cm. Canh gỗ phía trong vỏ nhựa bọc tay lái bên trái có vết chà sát kích thước 3,0cm x 0,3cm. Tại vị trí vỏ nhựa bọc tay lái này tiếp giáp vết chà sát nhựa cạnh gò phía trong về phía bên ngoài có vết chà sát nhựa kích thước 2,2cm x 0,2cm.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định giá xác định thiệt hại của chiếc xe đạp. Tại Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp màu sơn xanh - đen bị hư hỏng là 900.000.đ.
Cơ quan điều tra cũng đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định dấu vết cơ học nhằm xác định điểm va chạm giữa xe ôtô đầu kéo biển số 19C-165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R-011.42 với xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp bị hư hỏng. Kết quả Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Dấu vết chà xát, sạch bụi đặt tại vị trí cạnh mặt ngoài, bên phải; dấu vết chà sát sạch bụi đặt, bề mặt bám dính chất màu đen tại vị trí mặt ngoài, bên phải có chiều hướng từ trước về sau trên chắn bùn phía sau bánh bên phải xe ôtô đầu kéo biển số 19C - 165.51 phù hợp với dấu vết chà xát nhựa tại vị trí mặt ngoài, phía trong, một sau vỏ bọc tay nắm lái bên trái xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp, màu xanh đen”.
- Kết quả khám nghiệm tử thi: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định nguyên nhân tử vong, giám định nồng độ cồn, ma túy trong máu của tử thi Trần Thị S2. Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Trên cơ thể tử thi Trần Thị S2 xây sát da bầm tím tụ máu vùng lưng vai, thắt lưng hông bên phải và vùng lưng, thắt lưng hông bên trái. Dập rách lóc da, dập nát cơ phức tạp tại vùng nếp bẹn, toàn bộ đùi phải và toàn bộ 2/3 trên cẳng chân phải. Dập rách da cơ phức tạp toàn bộ tay bên phải và vùng mông bên phải. Chấn thương ngực - bụng kín: Xương thành ngực hai bên gãy mất vững. Chọc dò khoang ngực bên phải có nhiều dịch máu không đông. Gãy phức tạp xương cột sống ngực, thắt lưng từ D11 đến L5. Diện dập nát cơ thông vào ổ bụng có nhiều dịch máu chảy ra ngoài. Xương khung chậu sập gãy phức tạp. Gãy phức tạp xương cánh tay và cẳng tay bên phải, gãy xương đùi bên phải, dập rách động mạch đùi phải.
Tại bản Kết luận giám định Pháp y về tử thi số 1532/KLGDTT - PC09 ngày 04/12/2023, Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Trần Thị S2 là: Mất máu cấp do đa chấn thương”.
Tại bản Kết luận giám định số 1533/KL-KTHS ngày 05/12/2023, Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Trong mẫu máu của tử thi Trần Thị S2 sinh năm 1957 HKTT: Xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ gửi giám định không có cồn (Ethanol)”.
Tại bản Kết luận giám định hóa pháp số 1741/PY-XNĐH ngày 21/12/2023 của V1 kết luận: “Không tìm thấy các chất ma túy trong máu của Trần Thị S2”.
Tại thời điểm gây ra tai nạn giao thông, Vũ Văn S có giấy phép lái xe ôtô hạng FC có giá trị đến ngày 02/6/2025, phù hợp với loại xe điều khiển, không có nồng độ cồn trong hơi thở, không sử dụng chất kích thích khác.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 19C - 165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R - 011.42 mà Vũ Văn S đã điều khiển gây tai nạn và toàn bộ các giấy tờ của xe cùng số cát trên thùng xe Rơ moóc biển số 19R - 011.42. Chủ sở hữu xe ôtô đầu kéo và Rơ moóc cùng số cát trên thùng xe Rơ moóc là Doanh nghiệp tư nhân H3 do ông Đặng Văn H là chủ doanh nghiệp vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ các tài sản này và giấy tờ có liên quan cho ông H. Hiện còn đang tạm giữ của Vũ Văn S 01 giấy phép lái xe ôtô hạng FC.
Sau khi gây ra tai nạn, Vũ Văn S đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Trần Thị S2 tổng số tiền 180.000.000.đ.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS.ĐH ngày 10/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng truy tố Vũ Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử như sau:
- + Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Vũ Văn S từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nhưng buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- + Về dân sự và vật chứng: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 180.000.000.đ. Xác nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đặng Văn H chiếc xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 19C - 165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R - 011.42 và toàn bộ các giấy tờ của xe cùng số cát trên thùng xe Rơ moóc biển số 19R - 011.42. Đề nghị trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Vũ Văn S.
Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không oan, không tự bào chữa, cũng không có tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử cho loại hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Sáng ngày 23/11/2023, Vũ Văn S điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 19C - 65.51 kéo theo Rơ moóc biển số 19R -011.42 là xe của Doanh nghiệp tư nhân H3 do ông Đặng Văn H là chủ doanh nghiệp chở cát từ huyện Y, tỉnh Yên Bái về xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Khi điều khiển xe ôtô đi đến đoạn Km 46 +350 đường T thuộc địa phận khu Đ, xã H, huyện Đ, do không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước cùng chiều, và khi vượt không có tín hiệu đèn còi nên xe ôtô do S điều khiển đã va chạm với xe đạp do bà Trần Thị S2 điều khiển đang đi phía trước cùng chiều khiến bà S2 ngã ra lòng đường, hàng bánh xe bên phải của Rơ moóc chèn qua xe đạp, chèn qua vùng chân, tay bên phải và chèn ép phần ngực, bụng của bà S2. Hậu quả làm cho bà S2 bị mất máu cấp do đa chấn thương dẫn đến tử vong vào trưa cùng ngày tại Bệnh viện Đ2.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thì còn có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo gồm: Biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường ngay sau khi xảy ra tai nạn; biên bản khám nghiệm phương tiện; khám nghiệm tử thi; Kết luận giám định; hình ảnh trích xuất từ Camera giám sát hành trình được lắp đặt trong xe ôtô đầu kéo do bị cáo S điều khiển; lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của những người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ, vật chứng đều hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ tai nạn, phù hợp với các tình tiết sự kiện khác của vụ án và đều được thu thập kiểm tra đánh giá đầy đủ, toàn diện khách quan đúng quy định của pháp luật. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù bị cáo có Giấy phép lái xe ôtô đúng quy định, phù hợp với loại xe điều khiển nhưng khi điều khiển xe ôtô tham gia giao thông lại không chấp hành đúng các quy định của Luật Giao thông đường bộ, vi phạm khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 11 Thông tư 31 ngày 28/9/2019 của Bộ G.
Luật Giao thông đường bộ quy định:
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
“...”
11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu”.
Điều 14. Vượt xe
“1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi, ...”
Thông tư 31 ngày 28/9/2019 của Bộ G quy định:
Điều 11. Khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường
“1. Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, ... phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình...”
Chính từ hành vi vi phạm quy tắc khi điều khiển xe ôtô tham gia giao thông như đã nêu trên là nguyên nhân chính gây ra tai nạn và lỗi thuộc về bị cáo. Với hành vi, lỗi và hậu quả đã gây ra thì bị cáo Vũ Văn S3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” do vậy việc truy tố, xét xử bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng pháp luật.
Điều luật quy định: “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người...”
[2]. Mặc dù bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, nhưng hậu quả gây ra là nghiêm trọng, đã gây thiệt hại đến tính mạng người khác, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây nên sự lo lắng, bất an cho mọi người khi tham gia giao thông vì vậy việc xử lý hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung.
[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội do lỗi vô ý; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn và thực sự hối hận về lỗi lầm của mình; bị cáo cũng đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra; đại diện gia đình người bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy, để thực hiện chính sách nhân đạo của pháp luật nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo được tự lao động cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giúp bị cáo tự sửa chữa sai lầm của mình để là một công dân luôn chấp hành tốt pháp luật.
[4]. Về hình phạt khác: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị khấu trừ một phần thu nhập, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng hiện nay bị cáo đang là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và cũng không cần thiết phải cấm bị cáo hành nghề lái xe nên không áp dụng là phù hợp.
[5]. Về nghĩa vụ dân sự: Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình người bị hại tổng số tiền 180.000.000.đ, đại diện gia đình người bị hại là ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết;
Đối với chiếc xe ôtô mà bị cáo S điều khiển gây tai nạn là xe thuộc sở hữu của Doanh ngiệp tư nhân H4 do ông Đặng Văn H là chủ doanh nghiệp. Xe không bị thiệt hại, ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra giải quyết;
Về thiệt hại của chiếc xe đạp mà bà Trần Thị S2 điều khiển khi bị tai nạn, đại diện gia đình bà S2 không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với chiếc xe này vì vậy cũng không giải quyết.
[6]. Vật chứng của vụ án:
- - Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho chủ sở hữu là ông Đặng Văn H 01 chiếc xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 19C - 165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R - 011.42 và toàn bộ các giấy tờ của xe cùng số cát trên thùng xe Rơ moóc biển số 19R - 011.42 và trả cho gia đình người bị hại 01 xe đạp V. Việc trả lại tài sản của Cơ quan điều tra là đúng pháp luật được xác nhận.
- - Đối với 01 Giấy phép lái xe ôtô hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 02/6/2020 mang tên Vũ Văn S, do không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nên trả lại cho bị cáo S.
[7]. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn S phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Căn cứ vào vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đều hợp pháp, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa và có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn S 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Văn S cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo S có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Buộc bị cáo Vũ Văn S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Xác nhận bị cáo Vũ Văn S đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình người bị hại Trần Thị S2 tổng số tiền 180.000.000.đ (một trăm tám mươi triệu đồng) do ông Nguyễn Văn T đại diện gia đình người bị hại nhận ngày 01/12/2023 (có biên bản thỏa thuận và giấy biên nhận tiền lưu trong hồ sơ vụ án);
- + Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho ông Đặng Văn H những tài sản và giấy tờ gồm: Toàn bộ cát trên thùng xe Rơ moóc biển số 19R - 011.42; 01 xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC màu sơn nâu, biển số 19C - 165.51, kéo theo Rơ moóc biển số 19R - 011.42 (đã cũ); 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe ôtô biển số 19C - 165.51 mang tên Nguyễn Đức C; 01 Giấy chứng nhận đăng kí Rơ moóc biển số 19R - 011.42 mang tên Nguyễn Đức C; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ biển số 19C - 165.51 có hiệu lực hết ngày 28/5/2024; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ biển số 19R - 011.42 có hiệu lực hết ngày 31/3/2024 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô, biển số 19C - 165.51; 01 Giấy bán xe đề ngầy 08/11/2023 (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 29/11/2023 và ngày 12/01/2024 có lưu trong hồ sơ vụ án).
- + Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho gia đình bà Trần Thị S2 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt Tiệp màu sơn xanh đen (xe đã bị hư hỏng) do ông Nguyễn Văn T2 là chồng bà S2 nhận ngày 12/01/2024 (Có biên bản về việc trả lại tài sản lưu trong hồ sơ vụ án).
- + Trả lại cho bị cáo Vũ Văn S 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 02/6/2020 mang tên Vũ Văn S (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng có lưu trong hồ sơ vụ án);
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12//2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000.₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và đại diện gia đình người bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Tạ Hồng Tuấn |
10
14
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
