TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nga và ông Hồ Bạch Long.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Hoà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Kim Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Thanh H, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ C, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ C, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông H trình bày: Ông và bà L chung sống và kết hôn vào năm 1995, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vả. Nguyên nhân do bà L hiểu lầm hay ghen tuông khiến cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Ông bà hiện đã ly thân từ năm 2010 đến nay ông H bỏ đi ra ngoài sống bà L sống tại nhà chồng xã L, huyện C đến đến nay. Quá trình ly thân hai bên không có hành động hay thái độ gì hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không có liên hệ hay sinh hoạt như một gia đình. Ông đã nộp đơn ly hôn nhiều lần cho bà L cơ hội thay đổi nhưng bà L không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Nay về hôn nhân ông H xác định tình cảm không còn, hôn nhân không thể tiếp tục nên yêu cầu ly hôn với bà L.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Đặng Lê D, sinh năm 1996 và Đặng Thị Quỳnh G, sinh năm 2004, hiện 02 con chung đã thành niên nên ông không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn bà L trình bày:
Bà L xác định ông H trình bày đúng về quá trình hôn nhân thời gian chung sống. Bà thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn nhỏ không đáng để ly hôn. Bà thừa nhận bà và ông Hải ly t khoảng 7-8 năm nay, ông H bỏ ra ngoài sống riêng còn bà sống chung với cha mẹ chồng, chăm sóc con chung và cha mẹ chồng tại nhà chồng. Trong quá ly thân hai bên không có nói chuyện hay hàn gắn gì, nếu có chuyện vẫn trao đổi nhưng không có sinh hoạt như một gia đình, lễ tết hay giỗ gì ông H có về thăm cha mẹ nhưng hai bên không có nói chuyện riêng với nhau. Nay ông H yêu cầu ly hôn, bà không đồng ý ly hôn vì con chung vẫn còn đang đi học, con gái út đang học đại học năm 2, bà muốn đợi con chung học xong đại học mới tính.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Đặng Lê D, sinh năm 1996 và Đặng Thị Quỳnh G, sinh năm 2004, hiện 02 con chung đã thành niên nên bà không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến: Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại Tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông H phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranhchấp ly hôn, bị đơn bà Lê Thị Kim L đang cư trú tại tổ C, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tố tụng: Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ. Tòa án đã lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự yêu cầu.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa xác định ông H và bà L tự nguyện chung sống vào năm 1995 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, được pháp luật bảo vệ.
[3.1] Về hôn nhân: Ông H yêu cầu ly hôn với bà L, theo ông H trình bày cuộc sống chung vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, thường xuyên cãi vả nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vả. Nguyên nhân do bà L hiểu lầm hay ghen tuông cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Ông bà hiện đã ly thân từ năm 2010 đến nay, ông H bỏ đi ra ngoài sống bà L sống tại nhà chồng xã L, huyện C đến đến nay. Quá trình ly thân hai bên không có hành động hay thái độ gì hàn gắn cuộc sống ai nấy sống không có liên hệ hay sống như một gia đình. Ông đã nộp đơn ly hôn nhiều lần cho bà L cơ hội thay đổi nhưng bà L không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Bà L cũng thừa nhận vợ chồng có ly thân từ năm 2010 đến nay, ông H bỏ ra ngoài sống riêng còn bà sống chung với cha mẹ chồng, chăm sóc con chung tại nhà cha mẹ chồng. Trong quá ly thân hai bên không có nói chuyện hay hàn gắn gì, nếu có chuyện vẫn trao đổi nhưng không có sinh hoạt như một gia đình, lễ tết hay giỗ gì ông H có về thăm cha mẹ nhưng hai bên không có nói chuyện riêng với nhau. Tại phiên toà bà L trình bày bà không đồng ý ly hôn nhưng vẫn muốn tiếp tục ly thân như thời gian vừa qua và không đưa ra giải pháp hay mục tiêu đề gia đình đoàn tụ. Đồng thời căn cứ theo công văn trả lời xác minh tại UBND xã L xác định ông H và bà L đã ly thân một thời gian dài.
Xét thấy nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình theo khoản 3 Điều 2 Luật hôn nhân gia đình là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tuy nhiên cả hai đương sự ông H, bà L và chính quyền địa phương nơi ông H, bà L sinh sống đều xác định ông H, bà L có quá trình ly thân sống riêng kéo dài, việc đó chứng minh đời sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc, bà L có ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng vẫn muốn tiếp tục ly thân và không có biện pháp hay hành động gì để vợ chồng hàn gắn cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc trong suốt thời gian dài chứng tỏ bà L cũng không có thiện chí để gia đình đoàn tụ vì vậy đối với ý kiến không đồng ý ly hôn của bà L không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy từ những căn cứ trên chứng tỏ đời sống chung của ông H, bà L đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, hôn nhận không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.
[3.2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Đặng Lê D, sinh năm 1996 và Đặng Thị Quỳnh G, sinh năm 2004, hiện 02 con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Ông H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đặng Thanh H. Ông Đặng Thanh H và bà Lê Thị Kim L ly hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn số 03/95 ngày 16/3/1995 của UBND xã L, huyện C không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Đặng Lê D, sinh năm 1996 và Đặng Thị Quỳnh G, sinh năm 2004, hiện 02 (hai) con chung đã thành niên nên ông bà không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Đặng Thanh H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng là tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp theo biên lai thu số 0034551 ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Ghi nhận ông H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt tại Toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Quỳnh Như |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
