Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 22-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Diên Hùng.
  2. Bà Đoàn Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần L, tên gọi khác: Trần Hải L1, sinh ngày 28/02/1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Năm 2009, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính phạt tiền 100.000 đồng về hành vi đánh nhau theo Quyết định số: 20974/QĐ-XPVPHC ngày 11/6/2009; chấp hành xong ngày 07/7/2009.

Bị tạm giữ ngày 30/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 08/01/2024; đến ngày 02/02/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, được trả tự do; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Ngọc Tú C, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Dư Duy P1, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

3. Anh Phan Văn T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

5. Anh Trương Duy N, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

6. Anh Trần Phước L2, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

7. Anh Lê Quang N1, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

8 Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

9. Anh Nguyễn Viết Quốc H1, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

10. Chị Lê Thị Mỹ L3, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

11. Anh Trần Thanh T4, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt

12. Anh Đoàn Văn H2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Ư, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

13. Chị Nguyễn Thị Ngọc T5, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Ư, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

14. Anh Nguyễn Văn Thành D, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

15. Anh Trần Quang T6, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

16. Anh Võ Linh N2, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

17. Anh Nguyễn Viết T7, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

18. Anh Nguyễn Công T8, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

19. Anh Trần Ngọc Q1, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Lý (Trần Hải L1) nắm bắt được nhu cầu cần vay vốn nhanh của một số người dân trên địa bàn huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên từ tháng 3 đến tháng 12/2023, L1 đã dùng số tiền cá nhân cho nhiều người vay với lãi suất cao để thu lợi. Hình thức cho vay của L1 là vay “đứng” - tức thu trước tiền lãi trên số tiền thỏa thuận vay. Người vay cần vay tiền nhắn tin qua ứng dụng Zalo, M hoặc điện thoại cho L1 theo số điện thoại 0932.575.xxx để trao đổi. Sau khi thống nhất số tiền vay, L1 ấn định tiền lãi phải trả trước tùy theo mức độ quen biết, kỳ hạn trả gốc và lãi theo chu kỳ 10 ngày hoặc 30 ngày trả lãi một lần; nếu trong chu kỳ trả xong số tiền vay đã thỏa thuận gốc và lãi thì hợp đồng vay kết thúc; nếu hết chu kỳ mà người vay chưa trả tiền vay thì phải đóng tiền lãi chu kỳ tiếp theo, cứ như thế cho đến khi trả xong tiền vay. Sau khi thống nhất, L1 sẽ cắt lãi trả trước, chuyển số tiền vay còn lại cho người vay bằng tài khoản số [...] của L1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 (V). Sau đó, L1 sử dụng một trang giấy vở ghi tên người vay, số tiền vay để theo dõi. Người vay trả tiền vay cho L1 qua tài khoản hoặc trực tiếp.

Quá trình điều tra xác định người vay, số tiền vay, thời hạn, lãi suất và tiền thu lợi cụ thể như sau:

1. Anh Nguyễn Ngọc Tú C vay 02 lần:

- Lần 1: Tháng 3/2023, anh C liên hệ L1 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn 10 ngày, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 365%/năm. Lý cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh C 9.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L1 đã thu của anh C 11 lần tiền lãi tổng cộng 11.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 10.397.260 đồng. Anh C đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Tháng 4/2023, anh C liên hệ L1 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày trả tiền lãi 500.000 đồng tương ứng lãi suất vay là 365%/năm. Lý cắt lãi trả trước 500.000 đồng rồi chuyển cho anh C 4.500.000 đồng. Quá trình cho vay, Lý thu của anh C 01 lần tiền lãi là 500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 472.603 đồng. Anh C đã trả xong tiền vay.

2. Anh Nguyễn Dư Duy P1 vay 01 lần: Tháng 3/2023, anh P1 liên hệ L1 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh P1 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L1 đã thu của anh P1 10 lần tiền lãi tổng cộng 10.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 9.178.082 đồng. Anh P1 chưa trả số tiền vay.

3. Anh Phan Văn T2 vay 02 lần:

- Lần 1: Tháng 8/2023, anh T2 liên hệ L1 để vay 15.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 2.250.000 đồng tương ứng với lãi suất vay

3

182.50%/năm. Lý cắt lãi trước 2.250.000 đồng rồi chuyển cho anh T2 12.750.000 đồng. Quá trình cho vay, L1 đã thu của anh T2 04 lần tiền lãi tổng cộng 9.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 8.013.699 đồng. Anh T2 chưa trả số tiền vay.

- Lần 02: Tháng 9/2023, anh T2 liên hệ L1 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng trả tiền lãi là 1.500.000 đồng, tương ứng với lãi suất vay 182,5%/năm. Lý cắt lãi trước 1.500.000 đồng rồi chuyển cho anh T2 8.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L1 đã thu của anh T2 03 lần tiền lãi tổ ng cộng 4.500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 4.006.849 đồng. Anh T2 chưa trả số tiền vay.

4. Anh Nguyễn Đức T3 vay 02 lần:

- Lần 01: Ngày 11/10/2023, anh Trung liên hệ L4 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn 10 ngày trả tiền lãi 600.000 đồng tương ứng với lãi suất vay là 219%/năm. Lý cắt lãi trước 600.000 đồng rồi chuyển cho anh T3 9.400.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh T3 01 lần tiền lãi là 600.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 545.205 đồng. Anh T3 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Ngày 19/11/2023, anh Trung liên hệ L4 để vay 20.000.000 đồng, thời hạn 10 ngày trả tiền lãi 900.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 164,25%/năm. Lý cắt lãi trước 900.000 đồng rồi chuyển cho anh T3 19.100.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh T3 01 lần tiền lãi là 900.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 790.411 đồng. Anh T3 đã trả xong tiền vay.

5. Anh Trương Duy N vay 01 lần: Đầu tháng 4/2023, anh N liên hệ L4 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 10 ngày, trả tiền lãi 500.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 365%/năm. Lý cắt lãi trước 500.000 đồng rồi chuyển cho anh N 4.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh N 14 lần tiền lãi tổng cộng 7.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 6.616.438 đồng. Anh N đã trả xong tiền vay.

6. Anh Trần Phước L2 vay 01 lần: Tháng 12/2023, anh L2 liên hệ L4 để vay 20.000.000 đồng, thời hạn 10 ngày, trả tiền lãi 1.500.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 273,75 %/năm. Lý cắt lãi trước 1.500.000 đồng rồi chuyển cho anh L2 18.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh L2 01 lần tiền lãi là 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.390.411 đồng. Anh L2 đã trả xong tiền vay.

7. Anh Lê Quang N1 vay 02 lần:

- Lần 01: Tháng 3/2023, anh N1 liên hệ L4 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, trả tiền lãi 500.000 đồng tương ứng lãi suất vay 121,67%/năm. L4 đã cắt lãi trước 500.000 đồng rồi chuyển cho anh N1 4.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh N1 01 lần tiền lãi là 500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 417.808 đồng. Anh N1 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Tháng 5/2023, anh N1 liên hệ L4 để vay 10.000.000 đồng, thời

4

hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.500.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 182,5%/năm. Lý cắt lãi trước 1.500.000 đồng rồi chuyển cho anh N1 8.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu của anh N1 01 lần tiền lãi là 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.335.616 đồng. Anh N1 mới trả được 5.000.000 đồng trong số tiền đã vay.

8. Anh Nguyễn Hữu Q vay 01 lần: Đầu tháng 5/2023, anh Q liên hệ L4 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 03 ngày, trả tiền lãi 500.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 1.216,67%/năm. Lý cắt lãi trước 500.000 đồng rồi chuyển cho anh Q 4.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L4 đã thu lãi của anh Q 01 lần tiền lãi là 500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 491.781 đồng. Anh Q đã trả xong tiền vay.

9. Anh Nguyễn Viết Quốc H1 vay 01 lần: Ngày 26/11/2023, anh Hoàng liên hệ L5 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33%/năm. L5 đã cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh H1 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh H1 01 lần tiền lãi là 1.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 917.808 đồng. Anh H1 chưa trả số tiền đã vay.

10. Chị Lê Thị Mỹ L3 vay 01 lần: Tháng 4/2023, chị L3 liên hệ L5 để vay 20.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 4.000.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,33%/năm. L5 đã cắt lãi trước 4.000.000 đồng rồi chuyển cho chị L3 16.000.000 đồng. Chị L3 đã đưa cho L5 giữ 01 giấy mượn tiền, 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 thẻ bảo hiểm y tế. Quá trình cho vay, L5 đã thu của chị L3 06 lần tiền lãi tổng cộng 24.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 22.027.397 đồng. Chị L3 đã trả xong tiền vay.

11. Anh Trần Thanh T4 vay 02 lần:

- Lần 01: Ngày 15/5/2023, anh T4 liên hệ L5 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước số tiền 1.000.000 đồng chuyển cho anh T4 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T4 03 lần tiền lãi tổng cộng 3.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 2.753.425 đồng. Anh T4 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Ngày 04/10/2023, anh T4 liên hệ L5 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước số tiền 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh T4 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T4 1,5 lần tiền lãi (tức là 01 tháng 15 ngày) với số tiền là 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.376.712 đồng. Anh T4 đã trả xong tiền vay.

12. Anh Đoàn Văn H2 vay 02 lần:

- Lần 01: Ngày 20/7/2023, anh H2 liên hệ L5 để vay 3.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, trả tiền lãi 600.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước 600.000 đồng rồi chuyển cho anh H2 2.400.000

5

đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh H2 06 lần tiền lãi tổng cộng 3.600.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 3.304.110 đồng. Anh H2 chưa trả số tiền đã vay.

- Lần 02: Ngày 05/9/2023, anh H2 liên hệ L5 để vay số tiền 2.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 500.000 đồng tương ứng lãi suất vay 304,17%/năm. Lý cắt lãi trước 500.000 đồng rồi chuyển cho anh H2 1.500.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh H2 05 lần tiền lãi tổng cộng 2.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 2.335.616 đồng. Anh H2 chưa trả số tiền đã vay.

13. Chị Nguyễn Thị Ngọc T5 vay 01 lần: Tháng 8/2023, chị T5 liên hệ L5 để vay 12.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 2.400.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,33%/năm. L5 đã cắt lãi trước 2.400.000 đồng rồi chuyển cho chị T5 9.600.000 đồng. Chị T5 đã đưa cho L5 giữ 01 giấy mượn tiền, 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 sổ bảo hiểm xã hội. Quá trình cho vay, L5 đã thu của chị T5 05 lần tiền lãi tổng cộng 12.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 11.013.699 đồng. Chị T5 chưa trả số tiền đã vay.

14. Anh Nguyễn Văn Thành D vay 01 lần: Ngày 10/08/2023, anh D liên hệ L5 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh D 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh D 05 lần tiền lãi tổng cộng 5.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 4.589.041 đồng. Anh D chưa trả số tiền đã vay.

15. Anh Trần Quang T6 vay 02 lần:

- Lần 01: Tháng 5/2023, anh T6 liên hệ L5 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, trả tiền lãi 2.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước 2.000.000 đồng rồi chuyển cho anh T6 8.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T6 06 lần tiền lãi tổng cộng 12.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 11.013.699 đồng. Anh T6 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Tháng 11/2023, anh T6 liên hệ L5 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 243,33 %/năm. Lý cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh T6 4.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T6 01 lần tiền lãi là 1.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 917.808 đồng. Anh T6 chưa trả tiền vay lần này.

16. Anh Võ Linh N2 liên hệ L5 để vay 01 lần: Tháng 9/2023, anh N2 vay 10.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 2.200.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 267,67%/năm. Lý cắt lãi trước 2.200.000 đồng rồi chuyển cho anh N2 7.800.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh N2 01 lần tiền lãi với số tiền 2.200.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 2.035.616 đồng. Anh N2 đã trả xong tiền vay.

17. Anh Nguyễn Công T8 vay 02 lần:

6

- Lần 01: Ngày 19/7/2023, anh T8 liên hệ L5 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn 20 ngày, trả tiền lãi 1.500.000 đồng tương ứng với lãi suất vay 273,75%/năm. L5 đã cắt lãi trước 1.500.000 đồng rồi chuyển cho anh T8 8.500.000 đồng. Quá trình vay, L5 đã thu của anh T8 05 lần tiền lãi tổng cộng 7.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 6.952.055 đồng. Anh T8 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Ngày 25/11/2023, anh T8 liên hệ L5 để vay 3.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng lãi suất vay 405,56 %/năm. L5 đã cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh T8 2.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T8 01 lần tiền lãi là 1.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 950.685 đồng. Anh T8 đã trả xong tiền vay.

18. Anh Nguyễn Viết T7 vay 03 lần:

- Lần 01: Đầu tháng 11/2023, anh T7 liên hệ L5 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, trả tiền lãi 2.000.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,33%/năm. Lý cắt lãi trước 2.000.000 đồng rồi chuyển cho anh T7 8.000.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T7 01 lần tiền lãi là 2.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.835.616 đồng. Anh T7 đã trả xong tiền vay.

- Lần 02: Ngày 09/12/2023, anh T7 liên hệ L5 để vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 05 ngày, trả tiền lãi 600.000 đồng tương ứng lãi suất vay 438%/năm. Lý cắt lãi trước 600.000 đồng rồi chuyển cho anh T7 9.400.000 đồng. Quá trình cho vay, L5 đã thu của anh T7 01 lần tiền lãi là 600.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 572.603 đồng. Anh T7 đã trả xong tiền vay.

- Lần 03: Ngày 29/11/2023, anh T7 nhờ anh Trần Ngọc Q1 liên hệ với L5 để vay giúp 10.000.000 đồng. Anh Q1 liên hệ vay của L5 10.000.000 đồng, thời hạn vay 15 ngày, trả tiền lãi 1.000.000 đồng tương ứng lãi suất vay 243,3%/năm. Lý cắt lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển cho anh Q1 9.000.000 đồng. Anh Q1 chuyển cho anh T7 8.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, anh T7 liên lạc với L5 xác nhận khoản vay này là của cá nhân, được L5 đồng ý. Số tiền lãi L5 thu lần vay này là 1.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 917.808 đồng. Anh T7 đã trả xong tiền vay.

Như vậy, L5 sử dụng số tiền 210.450.000 đồng cho 18 người vay trong 28 lượt với lãi suất từ 121,67%/năm đến 1.216,7%/năm, cao gấp 6,08 đến 60,83 lần mức lãi suất cao nhất 20%/năm quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền lãi đã thu tổng cộng 127.400.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất 20%/năm là 10.230.137 đồng, tiền lãi vượt quá 20%/năm là 117.169.863 đồng. Có 08 người vay là anh Trần Quang T6, anh Phan Văn T2, anh Nguyễn Dư Duy P1, chị Nguyễn Thị Ngọc T5, anh Đoàn Văn H2, anh Lê Quang N1, anh Nguyễn Viết Quốc H1 và anh Nguyễn Văn T9 D chưa trả lại hoặc trả chưa đủ số tiền vay đã nhận.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ:

7

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, hiệu iPhone XS Max, màu vàng, I: 357267096099928, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) thẻ Ngân hàng V, số tài khoản 102873835069 đăng ký tên Trần L1, trong tài khoản có số tiền 25.840.361 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm sáu mốt đồng) đã được phong toả theo Lệnh phong toả tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
  • - 01 (một) bìa vở, kích thước 22 x 19 cm bên trong có 01 (một) trang giấy ghi chép việc cho vay của Trần Lý.
  • - 01 (một) giấy mượn tiền, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/7/2019 và 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 30/01/2016 đều mang tên Nguyễn Thị Ngọc T5.
  • - 01 (một) giấy mượn tiền, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 05/5/2016 và 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 31/12/2017 đều mang tên Lê Thị Mỹ L3.

Ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra quyết định xử lý vật chứng và thi hành trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 thẻ bảo hiểm y tế đã thu cho chị Lê Thị Mỹ L3; trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 thẻ bảo hiểm y tế đã thu cho chị Nguyễn Thị Ngọc T5.

Quá trình điều tra, có 17 người vay yêu cầu trả lại số tiền lãi vượt quá 20%/năm mà L1 đã thu. Cụ thể, anh Nguyễn Ngọc T10 Cảnh 10.869.863 đồng; anh Nguyễn Dư Duy P1 9.178.082 đồng; anh Phan Văn T2 12.020.548 đồng; anh Nguyễn Đức T3 1.335.616 đồng; anh Trương Duy N 6.616.438 đồng; anh Trần Phước L2 1.390.411 đồng; anh Lê Quang N1 1.753.425 đồng; anh Nguyễn Viết Quốc H1 917.808 đồng; chị Lê Thị Mỹ L3 22.027.397 đồng; anh Trần Thanh T4 4.130.137 đồng; anh Đoàn Văn H2 5.639.726 đồng; chị Nguyễn Thị Ngọc T5 11.013.699 đồng; anh Nguyễn Văn T9 Duy 4.589.041 đồng; anh Trần Quang T6 11.931.507 đồng; anh Võ Linh N2 2.035.616 đồng; anh Nguyễn Viết T7 3.326.027 đồng; anh Nguyễn Công T8 7.902.740 đồng. Anh Nguyễn Hữu Q không yêu cầu trả lại số tiền 491.781 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSPĐ ngày 24/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Trần L1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố.

Về hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 201, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng; áp dụng khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015

8

phạt bổ sung phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền thực tế bị cáo dùng cho vay đã được người vay trả lại.

Buộc những người vay là Nguyễn Dư Duy P1, Trần Quang T6, Phan Văn T2, Nguyễn Thị Ngọc T5, Đoàn Văn H2, Lê Quang N1, Nguyễn Viết Quốc H1, Nguyễn Văn T9 D chưa trả lại số tiền vay đã nhận phải nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Số tiền lãi trong giới hạn 20% /năm bị cáo đã thu của 18 người vay 10.230.137 đồng là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Số tiền lãi đã thu của 18 người vay tổng cộng 117.169.863 đồng là khoản thu lợi bất chính. Trong đó, 17 người vay có yêu cầu trả lại gồm Nguyễn Ngọc T10 Cảnh 10.869.863 đồng; anh Nguyễn Dư Duy P1 9.178.082 đồng; anh Trần Quang T6 11.931.507 đồng; anh Phan Văn T2 12.020.548 đồng; chị Lê Thị Mỹ L3 22.027.397 đồng; anh Trần Phước L2 1.390.411 đồng; chị Nguyễn Thị Ngọc T5 11.013.699 đồng; anh Nguyễn Đức T3 1.335.616 đồng; anh Nguyễn Viết T7 3.326.027 đồng; anh Đoàn Văn H2 5.639.726 đồng; a nh Lê Quang N1 1.753.425 đồng; anh Nguyễn Viết Quốc H1 917.808 đồng; anh Trương Duy N 6.616.438 đồng; anh Nguyễn Công T8 7.902.740 đồng; a nh Võ Linh N2 2.035.616 đồng; anh Trần Thanh T4 4.130.137 đồng; anh Nguyễn Văn Thành D 4.589.041 đồng nên buộc bị cáo phải trả lại.

Anh Nguyễn Hữu Q không yêu cầu trả lại 491.781 đồng nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Số tiền 25.840.361 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm sáu mươi mốt đồng) trong tài khoản bị cáo giao nộp đề nghị tiếp tục phong tỏa để bảo đảm thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, hiệu iPhone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 thẻ tín dụng do Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 phát hành mang tên “TRAN LY”; tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 02 giấy mượn tiền và 01 bìa vở có kèm theo trang ghi thông tin vay tiền.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Trình bày lời bào chữa, bị cáo không có ý kiến về hành vi và tội danh, chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: “Bị cáo đã biết sai phạm, mong Tòa xem xét giảm nhẹ”.

9

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt. Xét việc vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai người tham gia tố tụng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, Trần L1 đã sử dụng số tiền 210.450.000 đồng cho 18 người ở địa bàn huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vay vớilãi suất từ 121,67%/năm đến 1.216,7%/năm, gấp từ hơn 6 lần đến hơn 60 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để thu 127.400.000 đồng tiền lãi trong khi tiền lãi cao nhất được phép thu là 10.230.137 đồng, đã thu lợi bất chính tổng cộng 117.169.863 đồng (Một trăm mười bảy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng).

Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức để biết rằng việc cho vay phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nhưng với động cơ thu lợi bất chính, mục đích nhanh chóng có tiền không bằng lao động hợp pháp đã cố ý vi phạm quy định trong việc cho vay.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng.

10

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo giao nộp số tiền 25.840.361 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm sáu mươi mốt đồng) trong tài khoản để bảo đảm thi hành án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về hình phạt: Từ các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo.

[7] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Xét bị cáo phạm vào tội ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phạm vào tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng; nhân thân đã bị xử phạt hành chính nhưng đến thời điểm phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi chưa bị xử phạt hành chính hơn 10 năm. Do đó, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo để không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ, không gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính. Xét thấy cần căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bổ sung phạt tiền với mức tương xứng để răn đe.

[9] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 và 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 5 của Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy:

[9.1] Khoản tiền bị cáo dùng cho vay thực tế tổng cộng 210.450.000 đồng là công cụ phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Trong số tiền này, có 08 người vay chưa trả lại cho bị cáo gồm Nguyễn Dư Duy P1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), Trần Quang T6 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), Phan Văn T2 21.250.000 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thị Ngọc T5 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng), Đoàn Văn H2 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng), Nguyễn Viết Quốc H1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), Nguyễn Văn T9 Duy 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và Lê Quang N1 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tổng cộng 54.250.000 đồng (Năm mươi bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) cần buộc những người này phải nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9.2] Khoản tiền bị cáo sử dụng cho vay buộc nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là tổng cộng 210.450.000 đồng - 54.250.000 đồng = 156.200.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng).

[9.3] Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất 20%/năm bị cáo đã thu của 18 người vay tổng cộng 10.230.137 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi

11

nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) là tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9.4] Số tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20%/năm bị cáo đã thu của 18 người vay là không có hiệu lực. Người vay yêu cầu bị cáo trả lại là có căn cứ. Do đó, buộc bị cáo trả lại số tiền thu lợi bất chính cho người vay gồm anh Nguyễn Ngọc T10 Cảnh 10.869.863 đồng; anh Nguyễn Dư Duy P1 9.178.082 đồng; anh Trần Quang T6 11.931.507 đồng; anh Phan Văn T2 12.020.548 đồng; anh Trần Phước L2 1.390.411 đồng; chị Lê Thị Mỹ L3 22.027.397; anh Nguyễn Đức T3 1.335.616 đồng; anh Nguyễn Viết T7 3.326.027 đồng; anh Đoàn Văn H2 5.639.726 đồng; anh Lê Quang N1 1.753.425 đồng; anh Nguyễn Viết Quốc H1 917.808 đồng; anh Trương Duy N 6.616.438 đồng; Nguyễn Thị Ngọc T5 11.013.699 đồng; anh Nguyễn Công T8 7.902.740 đồng; anh Võ Linh N2 2.035.616 đồng; anh Trần Thanh T4 4.130.137 đồng; anh Nguyễn Văn Thành D 4.589.041 đồng.

[9.5] Số tiền 491.781 đồng bị cáo thu lợi bất chính nhưng anh Nguyễn Hữu Q không yêu cầu trả lại nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9.6] Số tiền 25.840.361 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm sáu mươi mốt đồng) trong tài khoản số [...] mang tên chủ tài khoản TRAN LY (T) mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh N3 đang bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số: 16/LPT-ĐCSHS ngày 14/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P cần tiếp tục phong tỏa để bảo đảm thi hành án.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xét thấy:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, hiệu iPhone XS Max, màu vàng do Trần L1 giao nộp là phương tiện được sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (một) bìa vở, kích thước 22 x 19 cm kèm theo trang giấy ghi thông tin về hoạt động cho vay và 02 (hai) giấy mượn tiền của Nguyễn Thị Ngọc T5 và Lê Thị Mỹ L3 cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 (một) thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 phát hành mang tên “TRAN LY” cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[12] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

12

quan đến vụ án vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[13] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần L1 (tên gọi khác: Trần Hải L1) phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt Trần L1 (Trần Hải L1): 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao Trần L1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

P2 bổ sung Trần L1 (Trần Hải L1) số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

4.1. Buộc Trần Lý n lại số tiền sử dụng cho vay đã được người vay trả lại tổng cộng 156.200.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

4.2. Buộc Trần Lý n lại số tiền lãi trong giới hạn 20% năm đã thu của 18 người vay là 10.230.137 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

4.3. Buộc Trần Lý n lại số tiền thu lợi bất chính mà anh Nguyễn Hữu Q không yêu cầu trả lại 491.781 đồng (Bốn trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng) để tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

4.4. Buộc những người có tên sau nộp lại số tiền vay đã nhận nhưng chưa trả để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, gồm:

  • - Buộc anh Trần Quang T6 nộp lại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

13

  • - Buộc anh Phan Văn T2 nộp lại 21.250.000 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Buộc anh Đoàn Văn H2 nộp lại 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).
  • - Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc T5 nộp lại 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
  • - Buộc anh Nguyễn Viết Quốc H1 nộp lại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
  • - Buộc anh Nguyễn Văn T9 D nộp lại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
  • - Buộc anh Lê Quang N1 nộp lại 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

4.5. Buộc Trần Lý t lại số tiền thu lợi bất chính cho người vay gồm:

  • - Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc T10 Cảnh 10.869.863 đồng (Mười triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Dư Duy P1 9.178.082 đồng (Chín triệu một trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).
  • - Trả lại cho anh Trần Quang T6 11.931.507 đồng (Mười một triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm linh bày đồng).
  • - Trả lại cho anh Phan Văn T2 12.020.548 đồng (Mười hai triệu không trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng).
  • - Trả lại cho anh Trần Phước L2 1.390.411 đồng (Một triệu ba trăm chín mươi nghìn bốn trăm mười một đồng).
  • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc T5 11.013.699 đồng (Mười một triệu không trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Đức T3 1.335.616 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Viết T7 3.326.027 đồng (Ba triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bảy đồng).
  • - Trả lại cho anh Đoàn Văn H2 5.639.726 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
  • - Trả lại cho chị Lê Thị Mỹ L3 22.027.397 (Hai mươi hai triệu không trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).
  • - Trả lại cho anh Lê Quang N1 1.753.425 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Viết Quốc H1 917.808 đồng (Chín trăm mười bảy nghìn tám trăm linh tám đồng).

14

  • - Trả lại cho anh Trương Duy N 6.616.438 đồng (Sáu triệu sáu trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Công T8 7.902.740 đồng (Bảy triệu chín trăm linh hai nghìn bảy trăm bốn mươi đồng).
  • - Trả lại cho anh Võ Linh N2 2.035.616 đồng (Hai triệu không trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
  • - Trả lại cho anh Trần Thanh T4 4.130.137 đồng (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn T9 D 4.589.041 đồng (Bốn triệu năm trăm tám mươi chín nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4.6. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số: 16/LPT-ĐCSHS ngày 14/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đối với số tiền số tiền 25.840.361 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm sáu mươi mốt đồng) tại tài khoản số [...] mang tên chủ tài khoản TRAN LY (T) mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh N3 để bảo đảm thi hành án.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone XS Max ,màu vàng, số Imei 357267096099928.
  • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) bìa vở kích thước 22 x 19 cm kèm theo 01 trang giấy vở có ghi thông tin về hoạt động cho vay và 02 (hai) giấy mượn tiền của Nguyễn Thị Ngọc T5 và Lê Thị Mỹ L3.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ tín dụng do Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 phát hành có họ và tên chủ thẻ “TRAN LY”.

6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Bị cáo Trần L1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

15

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - CCTHADS huyện Phong Điền;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Văn Trường

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, Trần L đã sử dụng số tiền 210.450.000 đồng cho 18 người ở địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế vay vớilãi suất từ 121,67%/năm đến 1.216,7%/năm, gấp từ hơn 6 lần đến hơn 60 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để thu 127.400.000 đồng tiền lãi trong khi tiền lãi cao nhất được phép thu là 10.230.137 đồng, đã thu lợi bất chính tổng cộng 117.169.863 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger