|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2024/DS-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v Tranh chấp về hợp đồng
thẻ tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Kiên Ngọc Minh
2. Bà Lê Thị Kim Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Thư ký viên Toà án nhân dân
huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 giửa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S.
Trụ sở chính: Số B đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho bà Nguyễn Đức Thạch D là ông Lê Ngọc T, chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S (công ty S1).
Người đại diện hợp pháp cho ông Lê Ngọc T là ông Trần Đức T1, chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S. (Có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phan Quang C, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 02 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ông Trần Đức T1 trình bày: Ngày 16/11/2020 ông Phan Quang C có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Điều khoản, Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Phan Quang C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất 2.6%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Phan Quang C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 51.745.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ ngày 10/12/2020 đến ngày 10/3/2021 ông Phan Quang C đã thanh toán cho Ngân hàng 03 lần số tiền 22.849.500 đồng. Từ ngày 10/4/2021 ông Phan Quang C ngưng thanh toán cho đến nay. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Phan Quang C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Phan Quang C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản, Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 11/7/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 35.754.897 đồng sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản, điều kiện phát hành sử dụng thẻ tin dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 26/02/2024, ông Phan Quang C còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng. Tổng cộng: 80.423.138 đồng.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Quang C phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/02/2024 là: 80.423.138 đồng (Trong đó tiền gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng) và ông Phan Quang C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ý kiến bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Quang C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 BLTTDS. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc buộc ông Phan Quang C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 26/02/2024 là: 80.423.138 đồng (Trong đó tiền gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng) và ông Phan Quang C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tham dự phiên toà: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ông Trần Đức T1 có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Phan Quang C đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng ông Phan Quang C vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phan Quang C.
[2] Về nội dung vụ án: Tại bản tự khai ngày 20/02/2024 người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Phan Quang C phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 26/02/2024 là: 80.423.138 đồng (Trong đó tiền gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng) và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16 tháng 11 năm 2020 cho đến khi ông Phan Quang C thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Phan Quang C có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 401, Điều 402, Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông C đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S được 03 lần tổng số tiền là 22.849.500 đồng. (Cụ thể : ngày 10/01/2021 thanh toán 400.000 đồng; ngày 10/02/2021 thanh toán 20.449.500 đồng và ngày 10/3/2021 thanh toán 2.000.000 đồng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Phan Quang C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Phan Quang C vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Bản điều khoản, điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 11/7/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu số tiền 35.754.897 sang nợ quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C trả số tiền nêu trên và lãi là có căn cứ phù hợp với các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho Ngân hàng trong việc thu hồi nợ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông C phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 26/02/2024 là: 80.423.138 đồng (Trong đó tiền gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng) và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16 tháng 11 năm 2020 cho đến khi ông C hanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
[3] Về án phí: Căn cứ 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Phan Quang C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ngân hàng TMCP S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Phan Quang C về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”
- Buộc ông Phan Quang C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 80.423.138 đồng (Tám mươi triệu bốn trăm hai mươi ba ngàn một trăm ba mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc: 35.754.897 đồng; Lãi quá hạn: 44.668.241 đồng.
- Kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2024 ông Phan Quang C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16 tháng 11 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Phan Quang C phải nộp số tiền 4.021.200 đồng (Bốn triệu không trăm hai mươi mốt ngàn hai trăm đồng). Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.507.422 đồng (Một triệu năm trăm lẻ bảy ngàn bốn trăm hai mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền số 0017060 ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số /2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: /2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với bị đơn ông Phan Quang Chuẩn về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”
