|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 21-07-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Sang
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hải; Ông Hoàng Văn Cường.
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện VKS nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông Bùi Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐST-HS ngày 05/3/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trần Thanh T, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2003 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Văn T1 và bà Đoàn Thị L; Gia đình có 03 người con, T là con thứ hai trong gia đình. Vợ con: Chưa; Tiền án: không; Tiền sự, 01: Bị Công an huyện H xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quyết định số 12/QĐ-XPHC ngày 28/02/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chạn tạm giam từ 23/6/2023 đến ngày 15/11/2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Đặng Văn L1, sinh ngày 22/10/2005 tại xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đặng Văn C và bà Phạm Thị V; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Tất T2, sinh ngày 24/12/1984 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ĐKHKTT: Tổ A, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 09/12; Con ông Phạm Văn H1 (đã chết) và bà Mai Thị H2; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Lê Thị M (đã chết) và 01 người con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T3, sinh ngày 12/8/2004 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 09/12; Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Trần Thị C1; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến ngày 16/11/2023 chuyển tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Tăng Văn N, sinh ngày 19/6/1999 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Con ông Tăng Văn B và bà Tăng Thị T5. Gia đình có 02 người cón, bị cao là con đầu. Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến ngày 22/10/2023 chuyển tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T6, sinh ngày 04/01/2000 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị H3; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba. Vợ con: Chưa; Tiền sự: Ngày 02/5/2022 có hành vi gây mất trật tự khu dân cư bị Công an thành phố T xử phạt 400.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 253/QĐ-XPHC. Chưa chấp hành xong. Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Công L2, sinh ngày 02/02/2004 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Con ông Phạm Văn H4 và bà Vũ Thị T7; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Vũ Long Đ, sinh ngày 29/10/2004 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 09/12; Con ông Vũ Văn H5 (đã chết) và bà Đặng Thị M1; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến ngày 09/12/2023 chuyển tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Văn T8, sinh ngày 19/11/1992 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị L3; Bị can là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Bùi Thị T9 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa của bị cáo Đặng Văn L1:
Bà Lương Thanh V1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt
* Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T6:
-
Ông Đặng Văn D (thẻ Luật sư số 10.591/LS - Đoàn Luật sư thành phố H). Có mặt
-
Ông Nguyễn Khánh T10 (thẻ Luật sư số 1501/LS - Đoàn Luật sư thành phố H). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Số nhà B Ngõ I đường N, phường Q, quận C, tp Hà Nội.
* Bị hại/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Trần Văn T11, sinh năm 2001. Có mặt
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Phạm Văn T12, sinh năm 1997. Có mặt
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
-
Anh Đoàn Quang C2, sinh ngày 22/9/2005. Vắng mặt
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Nguyễn Trường T13, sinh ngày 18/6/2002. Vắng mặt
Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Phạm Minh Đ1, sinh năm 2002. Vắng mặt
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Chị Bùi Thị Y, sinh năm 1996. Vắng mặt
Trú tại: Thôn N, xã N, huyện H, Thanh Hóa.
-
Anh Vũ Văn Đ2, sinh năm 2003. Vắng mặt
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Hoàng Văn N2, sinh năm 1999. Vắng mặt
Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, Thanh Hóa.
-
Anh Bùi Văn D1, sinh ngày 22/5/2005. Vắng mặt
Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Đào Văn C3, sinh năm 1996. Vắng mặt
Trú tại: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1996. Vắng mặt
Trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Than Hóa.
-
Anh Tăng Văn N3, sinh năm 1994. Vắng mặt
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Chị Trần Thị O, sinh năm 1971. Vắng mặt
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Chị Nguyễn Thị M2, sinh năm 1982. Vắng mặt
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Dương Văn H6, sinh năm 1972. Vắng mặt
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Nguyễn Văn V2, sinh năm 1989. Vắng mặt
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Bà Trần Thị Đ3, sinh năm 1969. Vắng mặt
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 09/5/2023, Trần Thanh T, sinh năm 2003, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện H cùng với anh Đoàn Quang C2, sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, Đ, anh Phạm Minh Đ1, sinh năm 2002, trú tại thôn Đ, xã Đ, anh Vũ Văn Đ2, sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã Đ cùng đến quán bà Trần Thị Đ3, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã N, để ăn tối, uống bia. Lúc này tại quán có anh Nguyễn Trường T13, sinh năm 2002, trú thôn H, xã H (là bạn của Trần Thanh T) cùng chị Bùi Thị Y, sinh năm 1996, trú thôn N, xã N, đang ngồi ăn đêm tại bàn bên cạnh bàn của nhóm T. Đến khoảng 02 giờ 30 cùng ngày, sau khi ăn uống xong, T cùng nhóm bạn mình thanh toán tiền rồi đi ra trước quán đứng để ra về. Lúc này, Đặng Văn L1, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2005, trú tại thôn T, xã N cùng với Nguyễn Văn T3, sinh năm 2004, trú tại thôn P, xã H từ ngoài đi vào quán để ăn đêm. Khi L1 đi ngang qua chỗ T đứng, T nghĩ L1 nhìn đểu mình nên T đã gọi L1 ra gặp mình; L1 vừa ra ngoài thì T tiến lại dùng tay tát L1, thấy vậy T3 cũng từ quán đi ra can ngăn. Ngay lúc này, anh C2 cũng lại dùng tay đấm L1 nhưng không trúng, sau đó xách xô bằng nhôm trước quán định đánh L1 nhưng nặng không đánh được sau đó tiếp tục dùng xô nhựa ném trúng người L1; anh Minh Đ1 cũng tiến lại dùng chậu nhôm định đánh L1 nhưng không đánh mà đặt xuống đường. Ngay sau đó anh T13 đi ra dùng tay tát L1 02 cái vào mặt; T3 cũng bị đánh bằng tay không, bị đánh nên L1 bỏ chạy về phía tây còn T3 bỏ chạy về phía đông. T, anh T13, anh C2 chạy đuổi theo L1 một đoạn khoảng 50 m, nhưng được mọi người can ngăn thì quay lại. Lúc này, T3 định quay lại quán bà Đ3 lấy xe máy, thì bị nhóm của T đuổi theo T3. T3 chạy ra phía đê biển, nhóm của T chạy được một đoạn thì không đuổi nữa mà lên xe ra về, anh T13 và chị Y vẫn ở lại quán ăn đêm.
Cùng lúc này Phạm Tất T2, sinh năm 1984, Tăng Văn N, sinh năm 1999; Phạm Công L2, sinh năm 2004, Nguyễn Văn T6, sinh năm 2000, cùng trú tại thôn P, xã H đang ở đám cưới của anh Phạm Văn Đ4 (em trai của T2) thì L1 gọi điện thoại cho T2 (là cậu ruột của L1) nói mình bị đánh. Sau đó, N điều khiển xe máy chở T2; T6 đi một xe, còn L2 đi một xe máy cùng xuống xã N. Khi cách quán bà Đ3 một đoạn, T2, N, T6, L2 gặp L1 đang đứng trong ngõ. L1 đã kể lại cho T2 việc mình bị đánh, rồi cả nhóm đi lại quán bà Đ3 tìm nhóm của T, chửi bới đồng thời yêu cầu anh T13 ra ngoài. Bà Đ3 thấy vậy nên đóng cửa quán lại, trong quán lúc này chỉ có anh T13 và chị Y vì sợ bị đánh không dám ra. Anh T13 gọi điện thoại cho đồng chí Nguyễn Đình Á, Phó trưởng công an xã H thông báo việc có xảy ra đánh nhau, đề nghị giúp đỡ. Đồng chí Á nhận thấy nơi xảy ra vụ việc thuộc địa bàn xã N nên hướng dẫn anh T13 gọi công an xã N đến giải quyết kịp thời. Sau đó, anh Nguyễn Văn V2, sinh năm 1989, trú thôn T, xã N (là con trai bà Đ3) có gọi điện thoại cho công an xã N báo sự việc đánh nhau. Anh T13 tiếp tục gọi điện thoại cho anh Hoàng Văn N2, sinh năm 1999, trú thôn H, xã H để nhờ anh N2 đến đón mình về. Sau đó, anh T13 có gọi điện thoại cho T nói mình bị nhóm của L1 chặn đánh, mục đích bảo T qua đón mình. Nghe thấy vậy, T quay xe để đi đến chỗ anh T13, đi được một đoạn thì gặp anh Đào Văn C3, sinh năm 1996, trú tại thôn Y, xã H đang chơi game ở trước cổng nhà nên rủ đi cùng, T cầm theo một con dao rựa lưỡi kim loại màu đen để trên mép tường nhà anh C3 và dắt ở giá trước của xe. T chở anh C3 đến cổng sân văn hóa xã N thì anh C3 thấy đánh nhau sợ phiền đến mình nên tự ý bỏ về trước. Thấy T đến, T2 cùng L1, T3, T6, Ngọc t lại gần hỏi lý do T đánh L1, sau đó T2, T3, L2, L1, N, T6 dùng tay đấm liên tiếp vào người T. T2 lấy đoạn dây chun màu đen ở chiếc xe kéo trước cổng sân văn hóa xã N sau đó chắp lại vụt về phía người của T.
Lúc này, Vũ Long Đ cùng với anh Trần Văn T11, sinh năm 2001, trú thôn Đ, xã Đ, anh Phạm Văn T12, sinh năm 1997, trú thôn Đ, xã Đ, anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1996, trú thôn V, xã Đ xuống quán bà Đ3 ăn đêm. Đàm thấy T bị đánh nên Đ lao vào đạp nhóm của L1. Thấy vậy, T6 lao tới ôm Đàm cho N đấm, T3 nhặt gạch đỏ ở gần thùng rác đập vào người của Đ. Thấy anh T12, anh T11 đang đi tới gần, T2 nghĩ T12 và T11 cùng nhóm của T nên dùng tay không đánh vào vùng mắt trái của anh T12, anh T12 bỏ chạy, T2 rút chiếc thắt lưng đang đeo trên người chắp đôi lại (tay cầm phần đầu khóa và phần đuôi thắt lưng) sau đó vụt trúng phần sau tai phải của anh T12. Lúc này, T dùng dao chém về phía Lý nhưng sượt qua. Lý có cầm một chiếc ô che nắng để trước cổng sân văn hóa vụt lại phía T nhưng không trúng. L1 cầm gạch ném về phía T nhưng không biết có trúng ai hay không. N nhặt gạch đỏ ở rìa đường ném về phía anh T11; L2 đi lại chỗ trước cửa quán bà Đ3, rút hai vỏ bia thủy tinh (mỗi tay cầm một vỏ chai, cầm ở phần cổ, hướng phần thân chai về trước trong đó có một vỏ chai thì L2 đã đập xuống đường nên vỡ một phần) mục đích để dọa lại nhóm T. Thìn cũng cầm hai vỏ chai bia ở trong két vỏ bia trước quán bà Đ3 ném về phía trước, về phía nhóm của T. Thấy vậy, T lại cầm dao lùa lại nhóm L1, nhóm L1 bỏ chạy về phía ngã ba. Anh T12 giật con dao từ T, đi theo nhóm của L1 nói: “Tao bị thương mắt rồi, chúng mày cầm dao chém tao chết luôn đi”. Thấy anh T12 cầm dao nên anh B1 giật dao bỏ lại góc tường. L1 gọi điện thoại cho Phạm Văn T8, sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã H (là cậu của L1) nói mình bị đánh mục đích nhờ T8 đến giúp cùng đánh nhau, nghe thấy vậy Phạm Văn T8 đã nhờ anh Tăng Văn N3, sinh năm 1994, trú cùng thôn P, xã H chở mình đi xuống sân văn hóa xã N. Đến nơi, T8 xuống xe đi lại phía Lực, L1 chỉ về phía T nói: “Bọn mày đánh tao trước”. Ngay sau đó, T2 lao tới chỗ T dùng tay đấm liên tiếp vào người T khiến T ôm đầu ngồi xuống đường, L2 và T8 tiến lại gần, L2 dùng tay đánh, T8 dùng chân đá vào người T. Sau đó, được mọi người can ngăn nên không ai đánh nhau nữa, cũng lúc này lực lượng công an xã N có mặt giải quyết vụ việc. Hậu quả Trần Thanh T, Phạm Văn T12 và Trần Văn T11 phải đi điều trị tại Bệnh viện.
Đối với thương tích của Phạm Văn T12:
Ngày 15/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên cho anh Phạm Văn T12, Trần Thanh T và Trần Văn T11.
Ngày 21/6/2023, Trung tâm P có bản kết luận giám định số 776/KLTTCT-PYTH kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn T12 tại thời điểm giám định là: 28%.
Ngày 29/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung Giám định mức độ tổn hại phần trăm sức khỏe của từng vết thương do thương tích gây nên cho anh Phạm Văn T12.
Ngày 06/9/2023, Trung tâm P có bản kết luận giám định số 1567/KLTTCT-PYTH kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích lần đầu: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do cụ thể từng thương tích, nhóm thương tích gây nên đối với Phạm Văn T12 là:
- - Xây xước da vùng mi trên mắt trái, mắt trái bị thâm tím gây tổn thương mắt và ổ mắt, gẫy xương thành trong hố mắt trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng thị lực mắt trái giảm bằng 4/10 do tổn thương hoàng điểm do chấn thương, gẫy xương thành trong hố mắt trái và sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu trong mi trên mắt trái: 27%.
- - Vết xây xước da phía sau tai phải; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm phía sau vành tai phải: 01%.
Ngày 03/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định vật gây thương tích đối với các vết thương của Phạm Văn T12. Ngày 16/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T ban hành Kết luận số 1187/KLVGTT-PYTH kết luận:
- - Vết xây xước da vùng mi trên mắt trái, mắt trái bị thâm tím: Do tác động của ngoại lực; được tạo bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương mắt và ổ mắt trái và gãy xương thành trong hố mắt trái; đã được điều trị; hiện tại còn di trứng:
- + Thị lực mắt phải 4/10 do tổn thương hoàng điểm.
- + Gãy xương trong hố mắt trái.
- + Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu trong mi trên mắt trái.
- - Vết xây xước da phía sau tai phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da, đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mêm vùng chẩm phía sau vành tai phải.
- - Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định Phạm Văn T12 có bị đánh khắp cơ thể hay không. Trường hợp do bị đánh thì do tác động của vật tày; không gây nên hậu quả và không để lại di chứng do chấn thương.
Ngày 29/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung vật gây thương tích cho Phạm Văn T12 về nội dung nếu đối tượng dùng tay (không cầm hung khí) thì có gây ra vết thương ở mắt của Phạm Văn T12 hay không. Ngày 06/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T ban hành Kết luận số 1568/KLVGTT-PYTH kết luận: Nếu đối tượng dùng tay (không cầm hung khí) đánh tác động vào vùng mắt trái của Phạm Văn T12 thì có thể gây nên vết thương vùng mắt trái của Phạm Văn T12 như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp.
Đối với các thương tích của Trần Văn T11:
Ngày 15/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ban hành Quyết định trưng mức độ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên cho anh Trần Văn T11. Ngày 23/6/2023, Trung tâm P có bản kết luận giám định số 775/KLTTCT-PYTH kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T11 tại thời điểm giám định là: 03%.
Ngày 03/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định vật gây thương tích đối với các vết thương của Trần Văn T11. Ngày 16/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T ban hành Kết luận số 1185/KLVGTT-PYTH kết luận:
- - Vết thương vùng thái dương đỉnh phải bờ mép nham nhở: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và hội chứng chấn động não; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh phải và hội chứng chấn động não điều trị ổn định.
- - Vết thương rách da chảy máu phần sau đầu bên phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và hội chứng chấn động não; đã được điều trị; hiện còn để lại di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm sau đầu bên phải và hội chứng chấn động não điều trị ổn định.
- - Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định Trần Văn T11 có bị đánh khắp cơ thể hay không. Trường hợp do bị đánh thì do tác động của vật tày; không gây nên hậu quả và không để lại di chứng do chấn thương.
Đối với các thương tích của Trần Thanh T:
Ngày 15/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên cho bị can Trần Thanh T. Ngày 21/6/2023, Trung tâm P có bản kết luận giám định số 775/KLTTCT-PYTH kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thanh T tại thời điểm giám định là: 01%.
Ngày 03/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định vật gây thương tích đối với các vết thương của Trần Thanh T. Ngày 16/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T ban hành Kết luận số 1186/KLVGTT-PYTH kết luận:
- - Mắt phải thâm quầng: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
- - Vết xước da vùng lưng bên trái: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng lưng trái ngang mức khoang liên sườn 7 - 8 đường nách sau bên trái.
- - Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác Trần Thanh T có bị đánh vào vùng hàm bên trái, đau vùng ngực, hông trái vai trái, cổ như trình bày của Trần Thanh T hay không. Trường hợp do bị đánh thì do tác động của vật tày; không gây nên hậu quả và không để lại di chứng do chấn thương.
- - Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động củ vật gây thương tích.
Đối với các thương tích của Vũ Long Đ, Đặng Văn L1, Nguyễn Văn T3, Phạm Công Lý do thương tích không lớn, sức khỏe ổn định nên đã tự nguyện viết đơn từ chối đi giám định tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ban hành Quyết định dẫn giải, nhưng Vũ Long Đ, Đặng Văn L1, Nguyễn Văn T3 và Phạm Công L2 kiên quyết từ chối.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị can đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng vụ án
- - Một số mảnh thủy tinh vỡ màu nâu đen có nhiều kích thước khác nhau, một số mảnh gạch màu nâu đỏ có nhiều kích thước khác nhau;
- - 01 dây thắt lưng, loại bằng da màu đen, có phần dây dài 105cm, rộng 3,2cm; một đầu gắn với khóa màu trắng sáng bằng kim loại kích thước (5x4) cm, bên trong khóa có một chốt kim loại kích thước (4x 0,5) cm.
- - 01 con dao (loại dao bầu) đã rỉ sét màu xám đen, chiều dài của dao là 20 cm, phần rộng nhất của dao là 6,5 cm; có một đầu nhọn, một đầu được gắn vào một ống kim loại màu xám hình trụ tròn dài 149 cm, đường kính tiết diện là 2,1 cm.
Các vật chứng nêu trên chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với 01 con dao của T sử dụng vào hành vi phạm tội; 01 dây chun Phạm Tất T2 sử dụng vào hành vi phạm tội; 01 cán ô Phạm Công L2 sử dụng vào hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, giữa anh Trần Văn T11 và gia đình cùng các bị cáo: Phạm Công L2, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T6, Đặng Văn L1 đã thỏa thuận dân sự bồi thường cho anh T11 số tiền 70.000.000 đồng tiền thuốc men, chi phí điều trị, tiền tổn thất lao động, tiền công người chăm sóc, tiền tổn thất tinh thần... Anh T11 nhận đủ số tiền, không yêu cầu bồi thường khoản nào khác. Anh T11 cũng có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự về hành vi gây thương tích cho anh T11, xin miễn truy cứu trách nhiệm Hình sự cho các bị cáo trên.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử giữa Phạm Văn T12 và cùng gia đình các bị cáo: Phạm Tất T2, Đặng Văn L1, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T6, Phạm Công L2 đã thỏa thuận dân sự bồi thường cho anh T12 số tiền 250.000.000 đồng các khoản thuốc men, chi phí điều trị, tổn thất lao động, công người chăm sóc, tổn thất tinh thần...Anh T12 nhận đủ số tiền, không yêu cầu bồi thường khoản nào khác. Anh T12 cũng có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự về hành vi gây thương tích cho bị cáo T2; xin miễn truy cứu trách nhiệm Hình sự cho các bị cáo trên. Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã đình chỉ vụ án đối với Phạm Tất T2 về hành vi Cố ý gây thương tích theo quyết định số 01/2024.HSST-QĐ ngày 15/02/2024. Đưa ra xét xử Phạm Tất T2 về tội Gây rối trật tự công cộng.
Xét tính chất, mức độ, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Riêng đối với bị cáo Phạm Tất T2, bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án về hành vi Cố ý gây thương tích. Do vậy đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc đình chỉ vụ án về hành vi Cố ý gây thương tích, chỉ đưa ra xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng là đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ:
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Trần Thanh T;
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 54; Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Văn T6.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65; Điều 90; khoản 1 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 BLHS đối với Đặng Văn L1.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 54; Điều 65 BLHS đối với Phạm Công L2.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với Phạm Tất T2, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N.
- - Khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với Vũ Long Đ, Phạm Văn T8.
Tuyên bố các bị cáo: Trần Thanh T, Đặng Văn L1, Phạm Tất T2, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T6, Phạm Công L2, Vũ Long Đ, Nguyễn Văn T14 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Xử phạt Trần Thanh T từ 30 (ba mươi) đến 33 (ba mươi ba) tháng tù. Được trừ 04 (bốn) tháng 23 (hai mươi ba) ngày đã tạm giam trước đó. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt Nguyễn Văn T6 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt Đặng Văn L1 21 (hai mươi mốt) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 (bốn mươi hai) đến 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Phạm Tất T2 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù. cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Tăng Văn N 24 (hai mươi bốn) đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Phạm Công L2 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) đến 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Vũ Long Đ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Phạm Văn T8 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Vật chứng vụ án đã thu giữ là công cụ phương tiện phạm tội/ vật không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bà Lương Thanh V1 là người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L1 không tranh luận về luận tội của đại diện viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với Đặng Văn L1 khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên không nhận thức đầy đủ được về hậu quả và trách nhiệm hình sự phải nhận. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường dân sự đầy đủ, thuộc gia đình người có công với cách mạng, có thân nhân là liệt sỹ, hoàn cảnh khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng... Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho hưởng án treo.
Ông Đặng Văn D là người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T6 không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị:
Đối với Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N: Bị cáo T3, bị cáo N tham gia với vai trò thấp, việc không chấp hành biện pháp ngăn chặn mà đi khỏi nơi cư trú là do hoàn cảnh kinh tế và nhận thức pháp luật hạn chế. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình là người có công với cách mạng. Bản thân T3 trong quá trình sinh sống tại địa phương chưa có lần nào vi phạm pháp luật; gia đình đã thỏa thuận bồi thường dân sự đầy đủ cho bị hại. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị khoan hồng cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho hưởng án treo.
Đối với Nguyễn Văn T6: Bị cáo T6 tham gia với vai trò thấp. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường dân sự đầy đủ. Có thân nhân là liệt sỹ, ông nội được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang. Trong quá trình sinh sống tại địa phương, đóng góp đầy đủ các hoạt động phong trào của địa phương. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 của BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo, được cải tạo tại địa phương. Trường hợp không được hưởng án treo thì đề nghị xem xét áp dụng điều 54 của BLHS cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ở mức án nhẹ nhất.
Bị cáo Phạm Công L2 có vai trò thấp, sau khi phạm tội đầu thú. Hoàn cảnh gia đình khó khan, đang thờ cúng thân nhân Liệt sỹ. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 của BLHS và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Bị cáo Vũ Long Đ, tham gia với vai trò thứ yếu. Lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố chết phải chăm lo cho ông bà già yếu phải đi làm mưu sinh nên vi phạm biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên đánh giá từ hoàn cảnh thực tế mà khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Đối với Phạm Văn T8 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đã thành khẩn ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để giáo dục bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn T11, Phạm Văn T12 và các bị cáo cùng gia đình đã thỏa thuận xong về việc bồi thường dân sự, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm:
- Một số mảnh thủy tinh vỡ màu nâu đen có nhiều kích thước khác nhau, một số mảnh gạch màu nâu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 dây thắt lưng, loại bằng da màu đen, có phần dây dài 105cm, rộng 3,2cm; một đầu gắn với khóa màu trắng sáng bằng kim loại kích thước (5x4) cm, bên trong khóa có một chốt kim loại kích thước (4x 0,5) cm bị cáo không đề nghị nhận lại; 01 con dao (loại dao bầu) đã rỉ sét màu xám đen, chiều dài của dao là 20 cm, phần rộng nhất của dao là 6,5 cm; có một đầu nhọn, một đầu được gắn vào một ống kim loại màu xám hình trụ tròn dài 149 cm, đường kính tiết diện là 2,1 cm là vật chứng của vụ án, đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với anh Đoàn Quang C2, anh Nguyễn Trường T13 có hành vi lùa đánh nhau, gây rối trật tự công cộng trong thời điểm lúc đầu, tuy nhiên xét về tính chất, mức độ của hành vi chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân anh T13 cũng có hành động gọi điện thoại cho công an nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của người khác. Hơn nữa ở giai đoạn sau khi hai nhóm lùa, đuổi, đánh nhau cả hai đều có điều kiện để tiếp tục đánh nhau nhưng không tham gia mà ở trong quán nhà bà Đ3, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” đối với Đoàn Quang C2, Nguyễn Trường T13 là đúng quy định.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Trần Thanh T;
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 54; Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Văn T6.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65; Điều 90; khoản 1 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 BLHS đối với Đặng Văn L1.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 54; Điều 65 BLHS đối với Phạm Công L2.
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với Phạm Tất T2, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N.
- - Khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với Vũ Long Đ, Phạm Văn T8.
Tuyên bố các bị cáo: Trần Thanh T, Đặng Văn L1, Phạm Tất T2, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Nguyễn Văn T6, Phạm Công L2, Vũ Long Đ, Nguyễn Văn T14 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Xử phạt Trần Thanh T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Được trừ 04 (bốn) tháng 23 (hai mươi ba) ngày đã tạm giam trước đó. Còn phải chấp hành 22 (hai mươi hai) tháng 07 (bảy) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt Nguyễn Văn T6 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt Đặng Văn L1 20 (hai mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Phạm Tất T2 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (năm mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N mỗi bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo T3, bị cáo N ngay tại phiên tòa.
- - Xử phạt Phạm Công L2 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Vũ Long Đ 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
- - Xử phạt Phạm Văn T8 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo: Đặng Văn L1 cho UBND xã N, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Phạm Tất T2, Nguyễn Văn T3, Tăng Văn N, Phạm Công L2, Phạm Văn T8 cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị Vũ Long Đ cho UBND xã Đ, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ gồm: Một số mảnh thủy tinh vỡ màu nâu đen có nhiều kích thước khác nhau, một số mảnh gạch màu nâu đỏ có nhiều kích thước khác nhau; 01 dây thắt lưng, loại bằng da màu đen, có phần dây dài 105cm, rộng 3,2cm; một đầu gắn với khóa màu trắng sáng bằng kim loại kích thước (5x4) cm, bên trong khóa có một chốt kim loại kích thước (4x 0,5) cm; 01 con dao (loại dao bầu) đã rỉ sét màu xám đen, chiều dài của dao là 20 cm, phần rộng nhất của dao là 6,5 cm; có một đầu nhọn, một đầu được gắn vào một ống kim loại màu xám hình trụ tròn dài 149 cm, đường kính tiết diện là 2,1 cm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Các bị cáo; Bị hại/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cao Văn Sang |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 21/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
