TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 12/2024/DS-ST Ngày: 21 – 5 – 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Ông Phạm Quốc Vượng
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Nguyễn Khải Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2023/TLST- DS ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST - DS ngày 26 tháng 12 năm 2023, Thông báo dời ngày xét xử số 01/2024/TB-TA ngày 16/01/2024, số 02/2024/TB-TA ngày 10/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Điểu Y, sinh năm: 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ C, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: anh Vũ Công T, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: tổ C, ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: chị Dương Cẩm T2, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: 1a/45, đường T, G, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Thị H – sinh năm 1964 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: tổ C, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên Tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Điểu Y và người liên quan bà Thị H trình bày:
Ông Y và bà Thị H là chủ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 6, diện tích 9954,7m2, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện B (nay là huyện H), tỉnh Bình Phước. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H-03560 do UBND huyện B cấp ngày 12/02/2008 cho H1 ôngĐiểu Y và bà Thị H. Thửa đất của gia đình ông Y có tứ cận tiếp giáp với các thửa đất và cũng có ranh giới đất đã sử dụng ổn định lâu dài như sau:
- + Phía bắc giáp với thửa đất số 41 chủ quyền sử dụng đất là ông Nguyễn Thành Dài;
- + Phía đông giáp với thửa đất số 49, hiện chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T1;
- + Phía tây giáp với thửa đất số 44, chủ sử dụng đất bà Thị D1;
- + Phía nam giáp với đường T - Т.
Khoảng 8/2022, do tình hình sức khỏe của ông Y hiện nay không tốt nên ông Y tiến hành tách thửa đối với thửa đất của gia đình. Nhưng khi ông Y tiến hành đo đạc tách thửa thì bên phía bà Nguyễn Thị T1 (Chủ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 49) không đồng ý ký giáp ranh cho gia đình ông Y. Với lý do là thửa đất của họ bị mất diện tích nên không ký. Khi đó, ông Y đã có liên hệ với chính quyền địa phương để xem xét và giải quyết thì biết được biết sự việc theo hiện trạng, vị trí thực tế đối với diện tích đất gia đình ông Y đang sử dụng ổn định lâu dài và có cắm ranh mốc rõ ràng cụ thể thì một phần diện tích đất của gia đình ông Y đang quản lý, sử dụng lại được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà T1 diện tích khoảng 5000m2. Sau khi biết sự việc trên Y đã nhiều lần liên hệ với bà T1 để hai bên có thể thỏa thuận thương lượng việc giải quyết vấn đề tranh chấp trên. Nhưng bà T1 lại lấy lý do là thửa đất trên vợ chồng bà T1 mua (nhận chuyển nhượng) một phần diện tích, phần còn lại là của ông Tô Văn C (chủ quyền sử dụng đất trước đây) nên việc thỏa thuận này là do ông Tô Văn C chứ bà T1 không biết gì. Nhưng thực tế, khi gia đình ông Y và phía gia đình ông C đã cùng nhau xác định ranh dất, cùng nhau cắm ranh mốc và sử dụng ranh giới mốc ổn định lâu dài, không tranh chấp với nhau. Do không thể tiến hành thỏa thuận được với nhau về việc điều chỉnh là sổ đất theo đúng hiện trạng sử dụng thực tế từ trước đây tới giờ, nên ông Y đã làm đơn đề nghị UBND xã T tiến hành hòa giải. Ngày 19/12/2022 tại UBND xã T gia đình ôngYêng (đại diện bà Thị P con gái của ông) cùng phía gia đình bà T1 đã tham gia buổi hòa giải tại UBND nhưng không thành. Nội dung hòa giải đã nêu rõ việc thửa đất của gia đình ông Y với các thửa đất liền kề đã có ranh mốc rõ ràng và đã sử dụng ổn định lâu dài khoảng 20 năm không tranh chấp. Đồng thời, tại buổi làm việc trên, giữa gia đình ông Y và vợ chồng bà T1 không hòa giải thành.Sau khi được Tòa án công khai chứng cứ và tiếp cận sơ đồ đo đạc được Cơ quan ban ngành thẩm định thì phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- + Yêu cầu công nhận ranh đất hiện tại giữa thửa đất của gia đình ông Y (Thửa đất số 48) và thửa đất của vợ chồng bà Nguyễn Thị T1 (thửa đất 49) được thể hiện từ điểm số 17 đến điểm số 12 tại sơ đồ đo đạc đã được thẩm định;
- + Công nhận phần diện tích đất của thửa đất số 48 theo sơ đồ đo đạc như sau: Thửa đất số 48 được trích đo địa chính với diện tích đo đạc thực tế là 11.129,5m2 trong đó có: 433,3m2 thuộc HLBV; 1125m2 diện tích thuộc ranh GPMB đường Tân Hưng - L, P.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 quá trình tham gia tố tụng và tại phiên Tòa người đại diện theo ủy quyền của bà T1 trình bày:
Bà T1 quen biết ông Y thông qua ông Tô Văn C (chủ sử dụng đất cũ). Bà T1 mua thửa đất số 49 tờ bản đồ số 06 vào ngày 08/3/2022 của ông Tô Văn C, có kí kết hợp đồng đặt cọc và ký kết hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 25/4/2022, hiện nay đã đứng tên bà là Nguyễn Thị T1. Theo thỏa thuận riêng giữa bà và ông C thì bà mua một phần đất trong thửa đất số 49. Phần đất bà mua có bề ngang là 47m giáp đướng và kéo dài hết đất. Khi mua đất bà chỉ đo tay và chưa cắm ranh do lúc đó đang làm đường. Đất này bà mua để dành nên chưa sử dụng, canh tác trên đất. Tứ cận như sau phía Bắc giáp thửa 41; phía Nam giáp mặt đường, phía Đông giáp thửa 54; phía Tây giáp phần đất còn lại của ông C. Do thửa đất của ông C đang bị biến động không thể tách thửa sang tên cho bà được nên ông C đề nghị sang tên toàn bộ thửa đất 49 sang cho bà, có thỏa thuận với nhau trên hợp đồng đặt cọc rằng bà chỉ sở hữu phần đất 47m ngang và kéo dài hết đất, phần đất còn lại vẫn là của ông C và ngoài ra khi nào tách thửa được ông C sẽ hỗ trợ cho bà sau.
Sau khi được Tòa án công khai chứng cứ và tiếp cận sơ đồ đo đạc được Cơ quan ban ngành thầm định thì bà có ý kiến như sau: Về ranh đất giữa thửa đất của bà và ông Y thì bà công nhận ranh đất này được thể hiện tại điểm số 17 đến điểm số 12 theo sơ đồ đo đạc. Còn thửa đất của bà do trước đây mua của ông Tô Văn C sau khi được đo đạc thì diện tích thực tế bị thiếu so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy nên bà sẽ khởi kiện yêu cầu bồi thường số tiền tương ứng với số diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà đã mua của ông C.
Quá trình giải quyết bà T1 thay đổi ý kiến không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn và có đơn yêu cầu phản tố sau khi Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng đề nghị Tòa án xem xét:
- - Công nhận phần diện tích bà đã nhận chuyển nhượng từ ông Tô Văn C là 47 mét mặt tiền đường mới mở ngang đất, chiều sâu hết đất, đầu đuôi bằng nhau của thửa 49, tờ bản đồ số 6;
- - Yêu cầu ông Y trả tiền cọc cho tôi là 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng)và chịu khoản phạt cọc 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng). Tổng số tiền là 3.800.000.000₫ (Ba tỷ tám trăm triệu đồng) khi sang nhượng thửa đất số 48 nêu trên của ông Y.
Nay tại phiên Tòa, đề nghị Tòa án xem xét đơn phản tố, công nhận toàn bộ thửa đất số 49 là của bà T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì bà là người thứ ba ngay tình
Tại phiên Tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã cơ bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tuy nhiên, việc xử lý đơn khởi kiện và xét xử vụ án đã vi phạm về thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, cần xem xét rút kinh nghiệm. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, Viện kiểm sát không có ý kiến gì thêm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu mà Tòa án thu thập được, phần tranh luận của các đương sự tại phiên Tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, Công nhận diện tích đất theo ranh giới thực tế sử dụng của nguyên đơn, không xem xét xử lý với yêu cầu phản tố của nguyên đơn do vi phạm thời hạn theo quy định tại khoản 3, Điều 200 Bộ luật tố tụng Dân sự. Án phí và các chi phí tố tụng khác bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận phần đất theo thực trạng để buộc bị đơn phải trả lại đất đã lấn chiếm thì đây là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013 và thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9, Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Diện tích đất tranh chấp và bị đơn cũng có nơi cư trú nằm trên địa bàn của huyện H nên căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 39 và điểm a, khoản 1 Điều 35 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Các bên đang tranh chấp về ranh giới giữa 02(hai) thửa đất là thửa 48 của phía nguyên đơn và thửa đất số 49, tờ bản đồ 06 của bị đơn cùng tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Nguyên nhân dẫn đến sự tranh chấp theo phía nguyên đơn diện tích đất thực tế của nguyên đơn có sai lệch so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về hiện trạng, diện tích đất tranh chấp sau khi đo đạc là 3872.6m² hiện đang thuộc thửa đất số 49 của phía nguyên đơn. Tại thủ tục hòa giải ở cơ sở, bị đơn không đồng ý theo thực tế nên nguyên đơn khởi kiện để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp dẫn đến tranh chấp.
[3] Xét về chứng cứ pháp lý của các bên về quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn đều có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- + Phía nguyên đơn cung cấp nguồn gốc đất khai phá từ năm 1990 và được UBND huyện B (cũ) nay là huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 645131 ngày 12/2/2008 với diện tích 9954.7m² .
- + Phía bị đơn cung cấp nguồn gốc đất chuyển nhượng năm 2022 và được UBND huyện H công nhận đất, cấp GCNQSDĐ vào ngày 04/10/2022 với diện tích đất là 6431.5m².
Như vậy, các đồng nguyên đơn, bị đơn đều có các căn cứ hợp pháp để xác lập quyền sử dụng, định đoạt đối với thửa đất, diện tích đất được cấp và được Nhà nước công nhận, bảo vệ quyền sử dụng đất.
[4] Xét ý kiến nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai thửa đất 48 và 49 cho thấy:
Căn cứ vào sơ đồ đo đạc đã được Sở Tài nguyên môi trường thẩm định, diện tích đất phía nguyên đơn, bị đơn sử dụng thì toàn bộ thửa đất số 48, số 49 không đúng với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các đương sự. Cụ thể thửa đất số 48 (trừ diện tích đất bị thu hồi theo quy hoạch làm đường T - L) đang sử dụng 3872,6m² thuộc thửa đất số 49 của bị đơn. Thửa đất số 49 bị mất hơn 3000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Để có căn cứ công nhận ranh giới theo hiện trạng quyền sử dụng đất tại phiên hòa giải ngày 30/11/2023 phía nguyên đơn cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của phía ông Tô Văn C, bà T1 không xem xét về ranh giới thửa đất mà chỉ mua theo hiện trạng khoảng 47m ngang giáp đường T - L, kéo dài hết đất, không mua hết thửa đất và quá trình xem xét thẩm định tại chỗ bà T1 cũng công nhận hàng rào ranh giới giữa thửa đất số 49 và thửa 48 từ điểm số 12 đến điểm số 17 giáp đường T - L. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của ông Tô Văn C, tại biên bản lấy lời khai ngày 22/11/2023 ông C thừa nhận khi ông là chủ sử dụng thửa đất ông cũng không nắm ranh giới đất giữa ông và ông Điểu Y, khi đo đạc mới biết ranh giới không đúng đã lấn sang phần đất ông Y đã sử dụng từ lâu, theo ông Công việc này bà T1 cũng biết và vẫn đồng ý sang nhượng (BL 77). Xét quá trình sử dụng đất của nguyên đơn ông Y đã sử dụng từ những năm 1990, trên phần đất ông Y sử dụng đã trồng cây cao su từ 15 năm – 20 năm tuổi, ổn định không có tranh chấp. Căn cứ kết luận của UBND xã tại buổi hòa giải ngày 19/12/2022 cho thấy “ranh giới giữa hai thửa đất đã được hình thành từ rất lâu khoảng 20 năm, việc ranh giới trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các hộ sai do với ranh trên hiện trạng UBND xã chưa xác định được nguyên nhân và sẽ thiết lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định” (BL 11).
Như vậy, việc người sử dụng đất ổn định lâu năm, đã xây dựng ranh giới cụ thể phân biệt với chủ sử dụng bất động sản liền kề, trồng cây lâu năm không có tranh chấp phù hợp với khoản 1 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, khoản 5, Điều 98 Luật đất đai 2013: Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, do chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì được xác định theo hiện trạng đang sử dụng. Nếu diện tích thực tế lớn hơn so với giấy tờ về quyền sử dụng đất mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Sổ đỏ. Do đó, đơn khởi kiện yêu cầu của ông Đ Yêng đề nghị Tòa án xem xét công nhận ranh giới giữa thửa 48 và thửa 49 với diện tích đất nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2008 diện tích 3872,6m² nằm trên thửa đất số 49 của bị đơn là có cơ sở. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của bị đơn chỉ mua đất theo hiện trạng và đề nghị Tòa án xem xét ranh giới vì chỉ mua một phần đất của ông Tô Văn C. Đối chiếu với sơ đồ đo đạc thì ý kiến của bị đơn phù hợp, bà T1 chỉ mua khoảng 47m mặt tiền đường T - L kéo dài hết đất mà không mua toàn diện thửa đất. Nay bị đơn cho rằng bị mất đất theo Giấy chứng nhận là không có cơ sở. Trong trường hợp bà T1 cho rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng, bà T1 có quyền khởi kiện ông Tô Văn C về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do đất bị thiếu hụt hoặc các lý do khác để đảm bảo quyền lợi.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết hợp đồng đặt cọc với ông Điểu Y và phạt cọc khi mua thửa đất 48 của ông Y. Xét thời điểm nộp đơn yêu cầu phản tố sau phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vi phạm khoản 3, Điều 200 Bộ luật tố tụng Dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án. Cần tách riêng vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc thành vụ án khác khi bà Thương yêu c.
Từ những nhận định nêu trên, cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu Y đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T1.
[5] Tại phiên Tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về việc tuân theo pháp luật và nội dung vụ án nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch. Ngoài ra, chi phí định giá, thẩm định, chi phí đo đạc phía bị đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 93, 203, 147, 227, 233, 244, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 97, 98, 167, 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng các Điều 158, 203, 221 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu Y về tranh chấp quyền sử dụng với bà Nguyễn Thị T1.
- Công nhận ranh giới giữa thửa đất số 49 và thửa đất số 48 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước tại các điểm 17 đến điểm 12 theo mảnh trích đo địa chính số 07 – 2023 của Công ty Đ1. Diện tích đất của thửa đất số 48 tăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3872,6m² thuộc quyền sử dụng đất của ông Điểu Y, bà Thị H. Có vị trí tứ cận như sau:
- - Phía Bắc giáp thửa 617
- - Phía Nam giáp một phần thửa 260
- - Phía Đông giáp thửa 49
- - Phía Tây giáp thửa 48
(Toàn bộ vị trí đất tranh chấp có sơ đồ đo đạc kèm theo bản án)
- Các ông bà Điểu Y, T, Nguyễn Thị T1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất đúng hiện trạng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Ông Điểu Y không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước hoàn trả lại cho ông Đ Yêng số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm ông Y đã nộp theo phiếu thu số 0014587 ngày 24/5/2023. Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
- Về chi phí tố tụng khác:
Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, tổng số tiền 49.500.000đ (Bốn chín triệu năm trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng ông Điểu Y đã nộp tại Tòa án. Bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Đ Yêng 49.500.000đ (Bốn chín triệu năm trăm ngàn đồng).
- Các đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự không có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Hồng |
Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 12/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
