Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: /2025/DS-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v “Tranh chấp về hợp đồng

vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Trinh

Ông Huỳnh Thái Việt;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P - sinh năm: 1971;
  • Trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bạch T - sinh năm 1963; trú tại: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa - là Người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy uỷ quyền lập ngày 27/12/2024).

(Bà T có mặt).

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P1 – sinh năm 1977;
  • Trú tại: Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Xuân H - sinh năm 1973
  • Trú tại: Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 11 năm 2024 (nộp Tòa án ngày 22/11/2024); các Biên bản lấy lời khai; các Biên bản hòa giải ngày 07/302025 và 17/4/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bạch T trình bày:

Ngày 02/01/2024, bà Nguyễn Thị P có cho bà Nguyễn Thị Ngọc P1 vay số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tại nhà bà P. Các bên có lập Giấy mượn tiền đề ngày 02/01/2024 có sự chứng kiến của bà Tô Thị H1, bà P và bà P1 có ký vào giấy mượn tiền trên. Tại thời điểm vay, không có mặt ông Hồ Xuân H, bà P trực tiếp giao tiền cho bà P1, bà P1 dùng số tiền trên vào mục đích gì bà P không biết, tuy nhiên bà P xác định chỉ có bà P1 là người vay tiền bà P. Đối với chữ ký của ông Hồ Xuân H là do bà P1 tự viết. Bà P1 có đưa cho bà P giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị Ngọc P1 và ông Hồ Xuân H. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 03 tháng, nhưng sau đó bà P1 cũng không chịu trả cả gốc lẫn lãi cho bà P.

Đến nay, bà P1 vẫn còn nợ bà P 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tiền gốc và lãi từ ngày 02/01/2024 cho đến 02/01/2025 là 12 tháng, bà P yêu cầu bà P1 trả lãi cho bà P theo lãi suất 20%/năm là 1,6%/tháng. Bà P yêu cầu trả lãi: 100.000.000₫ x 1.6%/tháng x 12 tháng = 19.200.000đ. Đến nay bà T yêu cầu bà P1 trả 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) tiền lãi, số còn lại không yêu cầu trả. Cộng cả gốc 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) là 112.000.000đ (một trăm mười hai triệu đồng) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà P khoản tiền trên.

* Tại bản tự khai, các Biên bản lấy lời khai; các Biên bản hòa giải ngày 07/302025 và 17/4/2025; bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P1 trình bày: Do có quan hệ quen biết, ngày 02/01/2024, vì cần tiền làm ăn, tôi có vay bà Nguyễn Thị P số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tại nhà bà P. Các bên có lập Giấy mượn tiền có sự chứng kiến của bà Tô Thị H1 mua bán ngoài chợ, còn địa chỉ ở đâu tôi không biết, tôi và bà P có ký vào giấy mượn tiền trên. Đối với chữ ký của chồng tôi là ông Hồ Xuân H là do tôi tự viết, ông H không biết về khoản vay giữa tôi và bà P. Để làm tin và đảm bảo cho khoản vay, Tôi có đưa cho bà P giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình đứng tên tôi và ông Hồ Xuân H, việc đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P thì chồng tôi là ông H không biết. Trong giấy mượn tiền không có thỏa thuận về thời hạn trả nợ và lãi suất, tuy nhiên các bên có thỏa thuận bao giờ bà P yêu cầu tôi trả tiền thì báo trước cho tôi một tháng, và thỏa thuận lãi là 3%/tháng. Việc vay tiền là để phục vụ cho việc cá nhân của tôi chứ không liên quan đến chồng tôi. Sau khi vay, vì làm ăn thất bại nên tôi không có khả năng trả nợ cho bà P

Nay bà P khởi kiện yêu cầu tôi trả nợ với số tiền gốc và lãi là 112.000.000₫ (một trăm mười hai triệu đồng), trong đó, gốc là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và lãi là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) thì tôi đồng ý. Nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên tôi xin trả theo phương thức như sau: mỗi tháng trả là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu trả vào 10/4/2025, trả liên tục cho đến khi hết nợ. Tôi yêu cầu nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi.

* Tại Biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Xuân H trình bày: Tôi và bà Nguyễn Thị Ngọc P1 là vợ chồng, kết hôn năm 2001. Tuy nhiên vợ chồng tôi đã không còn sống chung, mệnh ai nấy sống từ năm 2024. Nay Tòa án triệu tập tôi trình bày ý kiến về khoản nợ giữa bà Nguyễn Thị Ngọc P1 và bà Nguyễn Thị P thì tôi xin trình bày là bà P1 tự ý vay nợ phục vụ cho cuộc sống của bà P1, tôi không có liên quan gì đến khoản nợ này. Ngày 02/01/2024, bà P1 vay nợ bà P thì tôi không biết, không có mặt và chữ ký trên giấy mượn tiền không phải chữ ký của tôi. Đối với khoản nợ trên, tôi yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc P1 phải trả cho bà số tiền nợ gốc và lãi là 112.000.000đ (một trăm mười hai triệu đồng); bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P1 có địa chỉ là Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bạch T thay đổi yêu cầu khởi kiện

vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 phải trả cho bà Nguyễn Thị P một lần toàn bộ số tiền nợ là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền mà bị đơn ký xác nhận vào ngày 11/6/2015 âm lịch (tức là ngày 26/7/2015 dương lịch), không yêu cầu tiền lãi.

[2.1] Tại các lời khai trong bản tự khai ngày 22/01/2024, biên bản lấy lời khai ngày 22/01/2024, biên bản hòa giải 22/01/2024 và tại phiên tòa: Bị đơn ông ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 cũng thống nhất với phần trình bày của bà Nguyễn Thị P về thời gian vay, khoản tiền vay, nghĩa vụ trả nợ; ông, bà xác định có nợ bà P số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) do khó khăn nên dù bà P có đòi nợ nhiều lần nhưng vẫn chưa trả được nợ.

Căn cứ vào giấy viết tay ngày 11/6/âm lịch thể hiện ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 mượn tiền bà Nguyễn Thị P, có chữ ký xác nhận của ông T1, bà T2 và các lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 có mượn và hiện còn nợ bà Nguyễn Thị P số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Việc bị đơn ông T1, bà T2 không thanh toán tiền cho bà P là vi phạm quy định về hợp đồng dân sự về vay tài sản; nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời gây khó khăn cho bà P trong việc thu hồi vốn cho vay, ảnh hưởng quyền lợi của bà P nên bà P khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 trả tiền cho bà là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 đồng ý trả số tiền nợ 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho bà P nhưng do khó khăn nên xin được trả mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi trả hết số nợ hoặc sẽ trả hết một lần toàn bộ số tiền nợ cho bà P sau khi ông, bà đáo hạn Ngân hàng vào cuối năm 2026. Tuy nhiên, việc ông T1, bà T2 đề nghị không được người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định và phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 phải trả một lần cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P toàn bộ số tiền nợ là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng)

[2.2] Về tiền lãi: Bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị P được chấp nhận nên bà P không chịu án phí dân sự sơ thẩm. H2 lại cho bà P tiền tạm án phí đã nộp.

Ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, án phí, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.

    Buộc ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 phải cho bà Nguyễn Thị P số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

    Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn T1, bà Hồ Thị Mỹ T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị P số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002114 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

  3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh (Sau khi án có hiệu lực pháp luật);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Nhật Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2025/DS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: /2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Phụ Châu phạm tội Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger