|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 29 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cư A Cớ và bà Trần Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đoàn Quỳnh Anh, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Đỗ Q - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2025/ QĐ-TA ngày 06/5/2025 đối với các bị cáo:
-
Trịnh Văn D
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 29/7/1993 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Văn C1 và bà Vũ Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị Phương L và 02 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/11/2024, tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
-
Nguyễn Thị Phương L
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 06/7/1997 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L1; Có chồng là Trịnh Văn D và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/11/2024, ngày 22/11/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
-
Nguyễn Mạnh C2
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 21/10/1993 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị H; Vợ con chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2024, tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
-
Đặng Thanh S
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 05/12/2001 tại huyện T, tỉnh Trà Vinh;Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Hồng E và bà Phạm Thị T2; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Trương Ngọc L2 và có 01 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/12/2024, tạm giam từ ngày 23/12/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
-
Đào Tuấn V
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 04/12/1995 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai;Nơi cư trú: Tổ C phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Văn M và bà Nguyễn Thị V1; Vợ con chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/11/2024, tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C2: Ông Trần Trung Q1, ông Đỗ Mạnh Q2. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị T3
Địa chỉ: Tổ A phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người làm chứng: Chu Quang H1, Ngô Mạnh N, Đinh Xuân N1, Đỗ Đình K, Nguyễn Thái D1. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/11/2024, tổ công tác Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện nơi ở của Trịnh Văn D và Nguyễn Thị Phương L phát hiện D và L đang bán cho Đinh Xuân N1 (sinh năm 1997, địa chỉ: Tổ D phường K, thành phố L) 01 lọ nhựa bên trong có chất lỏng nghi là ma tuý. Khi nhìn thấy tổ công tác, L đóng chặt cửa ngăn chặn, tổ công tác mở cửa kiểm tra bắt quả tang L đứng trên đệm phòng ngủ trên tay cầm 01 can nhựa (loại can 10 lít) bên trong chứa chất lỏng nghi là ma tuý đang đổ ra đệm rồi cầm can nhựa ném vào góc phòng ngủ. Tổ công tác thu giữ của Đinh Xuân N1 01 lọ nhựa bên trong chứa 05ml chất lỏng, N1 khai là dung dịch chứa chất ma tuý vừa mua của D với giá 300.000 đồng, thu giữ của D số tiền 300.000 đồng và 01 can nhựa bên trong chứa 1.650ml chất lỏng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D và L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai, tại nhà mẹ đẻ của D là bà Vũ Thị T địa chỉ số A ngõ M, tổ A phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai, khám xét tại nhà bố đẻ của D là ông Trịnh Văn C1 địa chỉ thôn T, xã S, huyện B, cơ quan công an thu giữ 01 thùng phuy chứa chất lỏng, nhiều thùng các tông bên trong có các lọ nhựa, lọ thuỷ tinh, thiết bị thuốc lá điện tử chứa chất lỏng, các túi nilon chứa các hạt tinh thể trong suốt và các mảnh thực vật.
Ngày 17/11/2024 Cơ quan công an bắt quả tang Đào Tuấn V đang cầm 01 lọ nhựa có nắp vặn bên trọng chứa 08ml chất lỏng không màu, V khai nhận là dung dịch chứa chất ma tuý mua của Trịnh Văn D mang đi bán kiếm lời. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Tuấn V, thu giữ trên bàn máy tính 01 lọ nhựa màu trắng bên trong chứa 30ml chất lỏng màu vàng nhạt.
Ngày 19/11/2024 Nguyễn Mạnh C2 đến cơ quan công an đầu thú khai nhận đã nhiều lần mua tinh dầu chứa chất ma tuý của Trịnh Văn D và bán lại cho Ngô Mạnh N để kiếm lời. Triệu tập Ngô Mạnh N đến làm việc, Nam tự giác giao nộp 01 lọ nhựa bên trong chứa 3,5ml chất lỏng, N khai là tinh dầu chứa ma tuý mua của C2.
Ngày 19/12/2024 Đặng Thanh S đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đầu thú khai nhận là người đã sử dụng tài khoản Facebook “Ngọc L2” để bán tinh dầu chứa chất ma tuý cho Trịnh Văn D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Thanh S, thu giữ 11 lọ nhựa và 01 thiết bị thuốc lá điện tử, bên trong đều chứa chất lỏng.
Quá trình điều tra, D và L khai nhận:
Qua tìm hiểu trên internet, D biết về các chế phẩm tinh dầu chứa cần sa tổng hợp trộn với tinh dầu vị thông thường sử dụng để hút thuốc lá điện tử nên đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook từ tài khoản “Nguyên Đào” về để bán kiếm lời. Sau đó để tăng lợi nhuận, bị cáo đặt mua các dung dịch ma tuý về và tự pha chế để bán. Khoảng tháng 8/2024, D lên mạng xã hội dùng tài khoản Facebook của mình tên “Vape Thor” liên hệ với tài khoản Facebook có tên “Ngọc L2” và nick Zalo tên “M Anh” do Đặng Thanh S là chủ tài khoản để hỏi tinh dầu chứa chất ma tuý. D mua của S 100ml tinh dầu với giá 5.000.000 đồng, bị cáo sử dụng số tài khoản 0373464363 ngân hàng M2 tên Trịnh Văn D thanh toán chuyển khoản cho S vào số tài khoản 0338337400 ngân hàng K1. Sang gửi cho bị cáo D chai nhựa chứa tinh dầu ma tuý qua hệ thống giao hàng J, khi nhận được hàng D thanh toán 200.000 đồng cước vận chuyển. Bị cáo D đã pha trộn tinh dầu ma tuý với các loại tinh dầu thuốc lá điện tử và dung môi, sau đó chia ra các lọ nhỏ bán cho nhiều người sử dụng thuốc lá điện tử. Toàn bộ quá trình trên D và L đều bàn bạc với nhau, D trực tiếp liên hệ mua tinh dầu và pha trộn chia ra các lọ nhỏ, L đóng gói chuyển hàng cho khách khi có nhu cầu.
Đến ngày 05/11/2024, D tiếp tục đặt mua 1.000ml tinh dầu chứa ma tuý của S với giá 33.000.000 đồng. Bị cáo sử dụng số tài khoản 0966456825 ngân hàng T5 tên Trịnh Văn D tiếp tục chuyển khoản vào số tài khoản của S. S gửi cho bị cáo chai nhựa chứa 1.000ml dung dịch ma tuý, tuy nhiên ngày 09/11/2024 khi nhận hàng thì chai tinh dầu bị đổ hết. Ngày 10/11/2024 S chuyển lại cho D 01 can nhựa chứa 1000ml tinh dầu có chứa chất ma tuý. Ngày 15/11/2024 nhận được hàng, D tiếp tục pha chế và chia ra các lọ nhỏ và bán cho Đinh Xuân N1 01 lọ nhỏ 05ml với giá 300.000 đồng thì bị bắt. Ngoài ra, D khai từ tháng 7/2024 đến ngày 15/11/2024, D và L còn bán cho nhiều người trong đó bán cho Đào Tuấn V 02 lần, Nguyễn Mạnh C2 07 lần, Chu Quang H2 11 lần, Nguyễn Thái D1 5 lần.
Đối với Đặng Thanh S khai nhận:
Khoảng đầu tháng 8/2024, thông qua mạng xã hội bị cáo biết đến tinh dầu thuốc lá điện tử có chứa tinh dầu ma túy cần sa. S sử dụng tài khoản facebook “Ngọc L2” và đặt mua từ tài khoản facebook “Đêm về chill” 100ml tinh dầu chứa chất ma túy với giá 5.000.000 đồng và 1.500ml tinh dầu thường với giá 2.800.000 đồng mục đích để pha trộn bán kiếm lời. Sau khi nhận được hàng, S mang về nhà pha loãng tinh dầu chứa chất ma túy với tinh dầu thường theo hướng dẫn của người bán rồi chia nhỏ ra các chai nhựa và đăng bán trên facebook để tìm người mua. Đến ngày 14/8/2024 có Trịnh Văn D đã đặt mua 100 ml với giá 5.000.000 đồng. D chuyển tiền và bị cáo chuyển hàng như lời khai của D là đúng.
Đến ngày 05/11/2024, Trịnh Văn D tiếp tục đặt mua 1.000ml tinh dầu chứa chất ma túy với giá 33.000.000 đồng và đã tiền cho bị cáo. S đã gửi hàng cho D nhưng đến ngày 09/11/2024, D báo cho S biết chai tinh dầu qua vận chuyển đã bị đổ hết nên S tiếp tục liên hệ với tài khoản facebook “Đêm về chill” đặt mua 50 ml tinh dầu chứa chất ma túy với giá 2.800.000 đồng và 1000 ml tinh dầu thường với giá 2.200.000 đồng về pha chế và gửi lại cho D 01 can có 1.000 ml tinh dầu chứa chất ma túy, lần chuyển hàng này S không lấy tiền của D.
Đối với Nguyễn Mạnh C2, quá trình điều tra Nguyễn Mạnh C2 khai đã nhiều lần mua tinh dầu của Trịnh Văn D và bán lại cho Ngô Mạnh N cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 17/10/2024, N gọi điện và nhắn tin cho C2 để mua 50 ml tinh dầu thuốc lá điện tử với giá 1.500.000 đồng rồi chuyển tiền vào tài khoản của C2, sau đó C2 gọi điện cho Trần Anh T4 (sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B) là lái xe taxi đến nhà Trịnh Văn D để lấy tinh dầu chứa chất ma túy cầm đến giao cho N.
- + Lần thứ hai: Ngày 26/10/2024, N tiếp tục hỏi mua tinh dầu của C2 và chuyển cho C2 số tiền 2.250.000 đồng trong đó 2.000.000 đồng là tiền mua 50 ml tinh dầu, số tiền 250.000 đồng còn lại là tiền taxi. Sau đó C2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 24A-237.93 đến nhà D lấy tinh dầu chứa chất ma tuý để bán cho N tại lối rẽ vào khu tái định cư gần nhà ở của C2.
- + Lần thứ ba: Chiều ngày 30/10/2024, N gọi điện cho C2 hỏi mua 50 ml tinh dầu thuốc lá điện tử loại 1.500.000 đồng rồi chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, C2 bảo D cầm tinh dầu chứa chất ma tuý để trên ghế chiếc xe Lu đỗ gần nhà C2. Sau đó C2 gọi điện báo cho N vị trí để tinh dầu để N đến lấy.
- + Lần thứ tư: Ngày 02/11/2024, Nam nhắn tin cho C2 hỏi mua 50 ml tinh dầu thuốc lá điện tử loại 2.000.000 đồng. Sau đó N chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng. Tối cùng ngày C2 gọi điện cho Trần Anh T4 đi taxi đến nhà D lấy tinh dầu chứa chất ma tuý giao cho N.
- + Lần thứ năm: Chiều ngày 05/11/2024, N gọi điện cho C2 hỏi mua 50 ml tinh dầu thuốc lá điện tử loại 2.000.000 đồng rồi chuyển khoản cho C2. C2 điều khiển xe ô tô đến nhà D lấy tinh dầu ma tuý và để trên chiếc xe Lu đỗ gần nhà rồi gọi điện báo cho N vị trí để N đến lấy.
- + Lần thứ sáu: Chiều ngày 10/11/2024, N tiếp tục gọi điện cho C2 hỏi mua 50 ml tinh dầu và chuyển khoản cho C2 số tiền 2.200.000 đồng, trong đó 2.000.000 đồng là tiền mua tinh dầu, số tiền 200.000 đồng còn lại là tiền taxi. Sau đó C2 gọi điện cho Trần Anh T4 đến nhà D lấy tinh dầu chứa chất ma túy để giao cho N.
- + Lần thứ bảy: Ngày 13/11/2024, N nhắn tin cho C2 hỏi mua 50 ml tinh dầu thuốc lá điện tử và chuyển khoản cho C2 2.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C2 điều khiển xe ô tô đến nhà D để lấy tinh dầu chứa chất ma tuý. D đưa cho C2 02 lọ tinh dầu ma tuý (mỗi lọ 50ml), lọ thứ nhất C2 để ở đồng hồ nước trước cửa nhà mình rồi gọi điện cho N đến lấy. Lọ còn lại C2 giao cho khách của D tại phường D, thành phố L, C2 không biết người mua là ai.
Các lần mua tinh dầu ma tuý của D, C2 không trả tiền mặt mà trừ vào số tiền D đã vay C2, hai bên chưa thống nhất được số tiền đã trừ. Ngô Mạnh N khai nhận mua tinh dầu của C2 mục đích để sử dụng, khi mua không biết đây là tinh dầu chứa chất ma tuý, sau khi mua Nam có bán lại một phần cho Đỗ Tất Đ1, Nguyễn Thế Q3.
Đối với Đào Tuấn V khai nhận:
Từ tháng 10/2023, Đào Tuấn V quen biết Trịnh Văn D qua facebook và đã 02 lần đặt mua tinh dầu chứa chất ma tuý của D với tổng số tiền 3.500.000 đồng, V dùng tài khoản T5 số 19828624828010 và tài khoản V2 số 9849481995 chuyển tiền đến tài khoản T6 số 0966456825 của Trịnh Văn D, cụ thể:
- + Lần thứ nhất: Ngày 03/10/2024, Đào Tuấn V gọi điện cho Trịnh Văn D đặt mua 100 ml tinh dầu chứa chất ma túy với giá 2.000.000 đồng và đã chuyển khoản cho D. D và L gửi hàng qua xe khách cho bị cáo, sau khi nhận được tinh dầu bị cáo đã sử dụng hết.
- + Lần thứ hai: Ngày 13/11/2024, V tiếp tục gọi điện cho D đặt mua 100 ml tinh dầu chứa chất ma túy với giá 2.500.000 đồng, bị cáo chuyển khoản cho D 1.500.000 đồng, nợ lại 1.000.000 đồng. D và L tiếp tục chuyển hàng qua xe khách cho V. Sau khi nhận được tinh dầu chứa chất ma túy, bị cáo chia vào nhiều lọ nhựa để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ ngày 17/11/2024, Đỗ Đình K (sinh năm 1989, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ) gọi điện hỏi mua tinh dầu chứa chất ma túy, V đồng ý. K dùng tài khoản T5 số 19037969082014 chuyển vào tài khoản V2 số 9849481995 của V số tiền 800.000 đồng. V yêu cầu K đến nhà V tại tổ C, phường D, thành phố L để lấy tinh dầu. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi V đang cầm lọ tinh dầu chứa chất ma túy ở khu vực đường T thuộc tổ C, phường D, thành phố L để chờ giao cho K thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
- Tại kết luận giám định về ma túy số 509 ngày 17/11/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận các mẫu thu giữ khi bắt quả tang Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L và Đinh Xuân N1 gồm:
Mẫu M1 thu giữ của Đinh Xuân N1: Chất lỏng màu nâu vàng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB – BUTINACA. Thể tích của chất lỏng màu nâu vàng gửi giám định là 05 ml.
Mẫu M2 thu giữ của Trịnh Văn D và Nguyễn Thị Phương L: Chất lỏng màu nâu vàng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB – BUTINACA. Thể tích của chất lỏng màu nâu vàng gửi giám định là 1.650 ml.
- Tại Kết luận giám định về ma túy số 511 ngày 22/11/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận đối với các mẫu thu giữ khi khám xét nơi ở của Trịnh Văn D và Nguyễn Thị Phương L gồm:
Mẫu M41: 100 ml; M116: 63 ml; M135, M137, M146, M147, M148, M151: Không xác định được thể tích: Có chất ma túy gồm các loại: MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA.
Mẫu M134: Không xác định được thể tích: Có chất ma túy loại MDMB-INACA.
Mẫu M153: 50 ml: Có chất ma túy, gồm các loại: MDMB-4en-PINACA, MDMB-INACA, MDMB-BUTINACA, ADB-4en-PINACA.
Mẫu M154: 190 ml; Mẫu M155: 220 ml; Mẫu M156: 370 ml: Có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
Mẫu M159: 30 ml: Có chất ma túy, loại MDMB-INACA.
Tổng số 14/170 mẫu tìm thấy chất ma túy, những mẫu còn lại không tìm thấy chất ma túy.
Tại Kết luận giám định về ma túy số 514 ngày 18/11/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận các mẫu thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đào Tuấn V gồm:
Mẫu M1: Thể tích 08 ml: Chất lỏng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
Mẫu M2: Thể tích 30 ml: Chất lỏng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
- Tại Kết luận giám định về ma túy số 513 ngày 18/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã kết luận các mẫu thu giữ của Chu Quang H2 gồm:
Mẫu M1: Chất lỏng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA. Không xác định được thể tích của chất lỏng bên trong đầu hút của thiết bị điện tử hình hộp vuông gửi giám định.
Mẫu M2: Thể tích 02 ml. Chất lỏng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
- Tại Kết luận giám định về ma túy số 516 ngày 21/11/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận mẫu thu giữ của Ngô Mạnh N gồm: Mẫu M1: Thể tích 3,5 ml. Chất lỏng gửi giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
- Tại Kết luận giám định số 538 ngày 24/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận các mẫu thu giữ khi khám xét nơi ở của Đặng Thanh S gồm: Mẫu M1 đến Mẫu M12: Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu.
- Tại Kết luận giám định số 9294 ngày 31/12/2024 của V3 Bộ C3 đã kết luận:
Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA trong tất cả các mẫu gửi giám định gồm: Các mẫu gửi giám định thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L và Đinh Xuân N1; mẫu gửi giám định thu giữ của Chu Quang H2; các mẫu gửi giám định thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đào Tuấn V; mẫu gửi giám định thu giữ của Ngô Mạnh N.
Không giám định được nồng độ và khối lượng của chất ma túy MDMB-INNACA và MDMB – BUTINACA trong các mẫu gửi giám định do V3 Bộ C3 hiện chưa có các mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS-P1 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L, Nguyễn Mạnh C2, Đặng Thanh S về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố Đào Tuấn V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo L thay đổi lời khai cho rằng bị cáo không đồng phạm cùng bị cáo D mà chỉ 01 lần bán ma tuý cho Chu Quang H2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L, Đặng Thanh S, Nguyễn Mạnh C2, Đào Tuấn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn D từ 08 năm đến 09 năm tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thanh S, Nguyễn Mạnh C2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Tuấn V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Không đề nghị phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng, đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ các vật chứng còn lại sai trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang và quá trình khám xét nơi ở của các bị cáo cùng 01 thùng phuy dung tích 200 lít bên trong chứa chất lỏng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 05 điện thoại thu giữ của bị cáo D là L, 01 điện thoại thu giữ của Đào Tuấn V, 01 điện thoại của Nguyễn Mạnh C2 và 01 điện thoại của Ngô Mạnh N. Tiếp tục tạm giữ điện thoại của Đặng Thanh S để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 23.550.000đ thu lời bất chính của bị cáo D và L gồm: 300.000₫ đã bị tạm giữ, bị cáo D và L mỗi người bị truy thu 11.625.000đ. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 13.450.000đ thu lời bất chính bị cáo C2 đã tự nguyện nộp. Tịch thu sung quỹ nhà nước của Đặng Thanh S 38.000.000đ, bị cáo đã tự nguyện nộp lại 25.400.000đ, còn phải tiếp tục tuỷ thu 12.600.000đ. Tịch quỹ nhà nước của Đào Tuấn V 800.000đ. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Đối với người bào chữa cho bị cáo C2 đề nghị: Bị cáo C2 đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả nộp lại số tiền thu lời bất chính, đề nghị áp dụng cho bị cáo C2 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo C2 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật. -
[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều đã khai nhận hành vi vi phạm của mình.
Quá trình điều tra đủ căn cứ chứng minh bị cáo Đặng Thanh S do hám lợi đã 02 lần bán tinh dầu chứa chất ma tuý Trịnh Văn D với tổng số tiền thu được là 38.000.000 đồng. Bị cáo D sau khi mua được tinh dầu chứa chất ma tuý nêu trên của Đặng Thanh S đã pha chế và chia ra các lọ nhỏ và cùng bị cáo L bán cho nhiều người. Riêng bị cáo L quá trình điều tra bị cáo khai đã cùng D bàn bạc pha chế và bán tinh dầu ma tuý trong đó bị cáo trực tiếp bán cho Chu Quang H2 tổng cộng 11 lần. Tại phiên toà bị cáo thay đổi lời khai cho rằng bị cáo không bàn bạc và không tham gia bán tinh dầu ma tuý với bị cáo D, chỉ 01 lần bán cho Chu Quang H2 thu được số tiền 1.600.000 đồng, các lần khác do D là người thực hiện. Tuy nhiên căn cứ biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, các tài liệu khác như tin nhắn zalo, thông tin chuyển khoản giữa bị cáo L và Chu Quang H2 có thể khẳng định: bị cáo D và L đã cùng bàn bạc việc mua bán ma tuý trong đó D là người trực tiếp liên hệ mua tinh dầu ma tuý, pha trộn và chia ra các chai nhỏ, bị cáo L phụ trách đóng gói và chuyển hàng cho khách. Số lần D và L bán ma tuý đã chứng minh được gồm: 07 lần bán cho Nguyễn Mạnh C2 chưa thu được tiền, 02 lần bán cho Đào Tuấn V thu được 3.500.000 đồng, 11 lần bán cho Chu Quang H2 thu được 16.200.000 đồng (H2 trực tiếp giao dịch với L qua số điện thoại của L 11 lần, lần 1 Hoan mua 200.000 đồng bị cáo ship qua giao hàng nhận tiền mặt, từ lần thứ 2 đến lần 11 Hoan mua mỗi lần 1.600.000 đồng và đều chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng B và tài khoản ngân hàng V4 đứng tên Nguyễn Thị Phương L), 05 lần bán cho Nguyễn Thái D1 thu được 3.550.000 đồng, 01 lần bán cho Đinh Xuân N1 thu được 300.000 đồng, tổng cộng 25 lần thu lời được số tiền: 23.550.000 đồng.Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C2, quá trình điều tra đã chứng minh được bị cáo đã 07 lần mua tình dầu chứa ma tuý của D bán cho Ngô Mạnh N với tổng số tiền thu được là 13.450.000 đồng.
Kết quả giám định xác định các dung dịch tinh dầu thu giữ của các bị cáo đều có chứa chất ma tuý là: MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA, MDMB-4en-PINACA, ADB-4en-PINACA. Do không xác định được nồng độ và khối lượng của chất ma tuý nêu trên nên hành vi của các bị cáo Đặng Thanh S, Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L và Nguyễn Mạnh C2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đào Tuấn V đã bán 01 lọ tinh dầu chứa chất ma tuý MDMB-BUTINACA cho Đỗ Đình K với giá 800.000 đồng, K đã chuyển tiền cho bị cáo nhưng bị cáo chưa kịp giao cho K thì bị bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
-
[3]. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật,
các bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng do hám lợi nên các bị cáo vẫn mua bán trái phép chất ma tuý. Trong vụ án này bị cáo Trịnh Văn D và Nguyễn Thị Thùy L3 là đồng phạm, D giữ vai trò chính còn L3 giữ vai trò là người thực hành. Đối với các bị cáo Đặng Thanh S, Nguyễn Mạnh C2 và Đào Tuấn V phạm tội độc lập. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước và ảnh hưởng xấu tới đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung. -
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L3 tại phiên toà không thành khẩn, các bị cáo D, C2, S, V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D có ông bà nội là người có công được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo S có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo S và C2 đã đầu thú. Ngoài ra bị cáo S, C2, V đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính thể hiện sự ăn năn thái độ thành khẩn của các bị cáo. Do đó với bị cáo D, S, C2 và V được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cân nhắc mức hình phạt đối với các bị cáo như sau: Bị cáo D là người chủ mưu giữ vai trò chính nên cần xử phạt một mức án nghiêm khắc. Bị cáo L3 mặc dù tại phiên toà khai báo không đúng sự thật tuy nhiên xét thấy bị cáo và bị cáo D là vợ chồng, hiện có 02 con nhỏ, tại lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét mức hình phạt phù hợp để đảm bảo tính nhân văn của pháp luật. Bị cáo S và C2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo C2 đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính, bị cáo S thu lời số tiền bất chính lớn hơn hiện mới tự nguyện nộp lại được một phần nên cần xem xét mức hình phạt tương xứng. Bị cáo V cũng thành khẩn khai báo nên cũng cần xem xét mức hình phạt phù hợp.
-
[5]. Hình phạt bổ sung:
Xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo D một khoản tiền sung quỹ nhà nước để đảm bảo tính răn đe. Các bị cáo còn lại không có tài sản gì nên không cần phạt bổ sung. -
[6]. Các vấn đề có liên quan trong vụ án:
Theo bị cáo D khai trước khi mua tinh dầu chứa chất ma tuý của S, bị cáo đã đặt mua tinh dầu chứa ma tuý trên mạng xã hội của tài khoản Facebook tên “Nguyên Đào”. Bị cáo S khai đã mua tinh dầu chứa chất ma tuý của tài khoản Facebook “Đêm về chill” để bán cho D, tuy nhiên cơ quan điều tra không xác định được tên tuổi và địa chỉ của những người này nên không đề cập xử lý. Đối với Đinh Xuân N1, Nguyễn Thái D1, Chu Quang H2, Ngô Mạnh N, Nguyễn Thế Q3, Đỗ Tất Đ1 đều là những người mua tinh dầu chứa chất ma tuý để sử dụng, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tại nhà của bà Vũ Thị T (mẹ đẻ bị cáo D) 01 thùng phuy và nhiều chai lọ có tinh dầu chứa chất ma tuý. Quá trình điều tra xác định bà T không biết và không liên quan tới hành vi vi phạm của bị cáo nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm với bà T.
-
[7]. Vật chứng của vụ án:
Quá trình bắt giữ và khám xét đã thu giữ của các bị cáo nhiều mẫu chất lỏng đựng trong các chai, lọ nhựa, sau khi giám định các cơ quan giám định đã hoàn lại một phần. Các vật chứng được niêm phong trong các hộp bìa cát tông niêm đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 thùng phuy sắt dung tích 200 lít thu giữ tại nhà bà Vũ Thị T, bà T khai không biết nên cũng cần tịch thu tiêu huỷ.Cơ quan điều tra có thu giữ điện thoại di động của các bị cáo như sau:
Thu giữ của bị cáo D 01 điện thoại di động Iphone 11, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax và 01 điện thoại nokia. Quá trình kiểm tra nhận thấy bị cáo có sử dụng điện thoại Iphone 11 và nokia vào việc trao đổi mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với điện thoại Iphone 13 Promax kiểm tra không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 11, 01 điện thoại Iphone 15 Promax của bị cáo L3, 01 điện thoại di động Iphone 12 của bị cáo C2, 01 điện thoại di động Iphone của bị cáo V. Xét thấy các bị cáo đều sử dụng điện thoại để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động Redmi Note 13 Pro thu giữ của bị cáo S, bị cáo không sử dụng trao đổi mua bán ma tuý với D nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra Ngô Mạnh N đã tự giác giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, Nam không bị khởi tố trong vụ án này tuy nhiên xét thấy đây là chiếc điện thoại có chứa các thông tin liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo C2 và bản thân N cũng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó cũng cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo D là tiền bị cáo bán ma tuý cho Đinh Xuân N1 cần sung quỹ Nhà nước. Số tiền 25.400.000 đồng bị cáo S giao nộp, 800.000 đồng thu giữ của Đào Tuấn V, số tiền bị cáo C2 đã tự nguyện nộp 13.450.000 đồng tiền thu lời từ bán ma tuý cho Ngô Mạnh N theo biên lai số 0000873 ngày 08/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng đều là tiền mua bán trái phép chất ma tuý cần sung quỹ Nhà nước. Các bị cáo còn phải bị truy thu lại số tiền thu lời bất chính như sau: Truy thu của bị cáo L3 thu lời 16.200.000 đồng từ bán ma tuý cho H2; Truy thu của bị cáo D tiền thu lời 7.050.000 đồng (3.500.000 đồng bán ma tuý cho V và 3.550.000 đồng từ bán ma tuý cho D1). Bị cáo S thu lời bất chính 38.000.000₫ đã tự nguyện nộp 25.400.000 đồng nên cần tiếp tục truy thu 12.600.000 đồng.
-
[8]. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa:
Tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến gì. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo C2 hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa chính xác, bởi lẽ việc bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính không được coi là tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả. -
[9]. Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L, Đặng Thanh S, Nguyễn Mạnh C2, Đào Tuấn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn D 08 năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/11/2024. Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Văn D 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương L 07 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ 07 ngày tạm giữ.
- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Thanh S 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 20/12/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C2 07 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/11/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đào Tuấn V 02 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/11/2024.
-
Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng tại các hộp niêm phong như sau:
- Vật chứng có kí hiệu từ M33 đến M40; từ M42 (42.1; 42.2) đến M68 (M68.1; M68.2); từ M69 đến M77; từ M102 đến M110 được niêm phong trong 01 một hộp giấy. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in nội dung: “Hộp 1. Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà ở của bà Vũ Thị T, địa chỉ: số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024".
- Vật chứng có kí hiệu từ M125 đến M151 được niêm phong trong 01 một hộp xốp. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in nội dung: “Hộp 2. Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ trong quá trình khám xét tại nhà của Bùi Thị M1, Trịnh Văn C1, địa chỉ: T, S, B, Lào Cai ngày 15/11/2024”.
- Vật chứng có kí hiệu từ M165 đến M169 được niêm phong trong 01 một hộp giấy. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in nội dung: “Hộp 3. Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L, ngày 15/11/2024 tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai".
- Hộp bìa cát tông dán giấy trắng niêm phong, trên 01 mặt được dán giấy có in nội dung: “Hộp 1. Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định bổ sung thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024"
- Hộp cát tông có kích thước 32 cm x 23 cm x 25 cm dán giấy niêm phong. Trên một mặt của hộp có ghi “Hộp 02.Vật chứng thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024”.
- Hộp cát tông có kích thước 30 cm x 18,5 cm x 16 cm dán giấy niêm phong. Trên một mặt của hộp có ghi “Hộp 03. Vật chứng thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024".
- Hộp cát tông có kích thước 40,5 cm x 27,5 cm x 19 cm dán giấy niêm phong. Trên một mặt của hộp có ghi “Hộp 04. Vật chứng thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024".
- Hộp niêm phong, trên 01 mặt được dán giấy có in “Hộp 5. Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định bổ sung thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024"
- Hộp cát tông có kích thước 40 cm x 31 cm x 24,5 cm dán giấy niêm phong. Trên một mặt của hộp có ghi “Hộp 06.Vật chứng thu giữ tại phòng khách số nhà A, ngõ M, tổ A, phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024".
- Hộp niêm phong, trên 01 mặt được dán giấy có in “Hộp 7. Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định bổ sung thu giữ trong quá trình khám xét tại nhà Bùi Thị M1, Trịnh Văn C1, địa chỉ: T, S, B, Lào Cai ngày 15/11/2024"
- Hộp niêm phong kích thước (18,5 x 11,5 x 10) cm. Trên 01 mặt được dán giấy có in “Hộp 8. Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định bổ sung thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024"
- 01 (một) thùng bìa cát tông dán niêm phong. Trên mặt thùng bìa cát tông có chữ: “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 9294/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”.
- 01 (một) hộp giấy được dán niêm phong kín bằng giấy trắng. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tò giấy in nội dung: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi khám xet nhà Đặng Thanh S ở Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh ngày 19/12/2024".
- 27 (hai mươi bảy) hộp bìa cát tông màu trắng, nhãn hiệu “OXBAR FLAEAR bipod", trên vỏ in nhiều chữ nước ngoài, kích thước (8x14x2) cm. Thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- 10 (mười) hộp bìa cát tông màu trắng, nhãn hiệu “XTAL SE+”, trên vỏ in nhiều chữ nước ngoài, kích thước (2x13x5) cm. Thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- 03 hộp bìa cát tông trên vỏ hộp bìa có in chữ: “ONEO” và nhiều chữ nước ngoài, kích thước: (9x13x3) cm. Thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- 01 hộp bìa cát tông trên vỏ hộp có ghi chữ “GEEKVAPE” và nhiều chữ nước ngoài, kích thước: (8x13,7x3) cm. Thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- 01 hộp bìa cát tông, trên vỏ hộp có ghi chữ “NEREUZ DEEP BALCK” và nhiều chữ nước ngoài, kích thước (8x14x2) cm. Thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- 01 hộp giấy đã qua sử dụng, thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đào Tuấn V.
- 01 (một) thùng phuy hình trụ sắt màu xanh dung tích 200 lít, bên trong có dung dịch không màu được dán giấy niêm phong tại hai vị trí nắp thùng: “Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà ở của bà Vũ Thị T, địa chỉ: số nhà A ngõ M, tổ A phường K, TP L, tỉnh Lào Cai ngày 15/11/2024"
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước
- 01 điện thoại di động Iphone 11, số EMEI: 35 634310 6776515, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Văn D
- 01 điện thoại di động Nokia, số seri: 359334020045126, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Văn D
- 01 điện thoạidi động Iphone 11, số EMEI: 35657110 2495777, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Phương L
- 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max, số EMEI 35 610350 293323 9, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Phương L
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, số IMEI: 35 160378 491693 0; IMEI 2: 35 160378 535043 6, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh C2.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 35 465314 345229 8. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Đào Tuấn V.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 pro max màu xám có số IMEI: 356718113282021; IMEI 2: 35 6718113219957, điện thoại cũ đã qua sử dụng do Ngô Mạnh N tự nguyện giao nộp.
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án:
- 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max, số EMEI: 35 532532 720064 0, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Văn D
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro có số IMEI 1 862693072280067; IMEI 2: 862693072280075, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Thanh S.
Các vật chứng hiện đã được bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo biên bản bàn giao ngày 03/4/2025.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 300.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Trịnh Văn D; 800.000 đồng do bị cáo Đào Tuấn V tự nguyện nộp; 25.400.000 đồng bị cáo Đặng Thanh S tự nguyện giao nộp. Các số tiền hiện đã được gửi vào tài khoản tạm giữ số [...] của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tại Kho bạc nhà nước tỉnh L, giấy chuyển tiền ngày 14/02/2025 và 11/3/2025.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền của bị cáo Nguyễn Mạnh C2 đã tự nguyện nộp là 13.450.000 đồng theo biên lai số 0000873 ngày 08/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Truy thu của Trịnh Văn D 7.050.000 đồng, Nguyễn Thị Phương L 12.600.000 đồng, tiếp tục truy thu của Đặng Thanh S 12.600.000 đồng, để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.Buộc các bị cáo Trịnh Văn D, Nguyễn Thị Phương L, Nguyễn Mạnh C2, Đặng Thanh S và Đào Tuấn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Giang Thanh |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Giang Thanh |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Giang Thanh |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn D và đồng phạm mua bán trái phép chất ma tuý
