Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày 26/5/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

Vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Ông Phạm Hoàng Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Duy, kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc B, sinh năm 1949, trú tại: khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo uỷ quyền của ông B: Anh Đoàn Đức H, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 04/11/2024). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B là bà Bùi Thị Thanh N, sinh năm 1983, trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Ông B, anh H, bà N có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Kim C, sinh năm 1992, trú tại: khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phùng Thị Vân A, sinh năm 1997. Địa chỉ: khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Ngọc B đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Đoàn Đức H bày:

Do mối quan hệ quen biết với anh Hoàng Kim C nên ngày 07/02/2023, ông B anh C vay số tiền là: 500.000.000₫ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng). Anh C đã nhận đủ số tiền 500.000.000đ. Anh C đã ký và viết họ tên vào mục Người vay tiền tại Giấy vay tiền ngày 07/02/2023. Anh C hẹn ông B đến ngày 07/8/2023 sẽ trả số tiền trên. Khi vay hai bên thống nhất thoả thuận lãi xuất bằng miệng với nhau là 1,3%/ tháng, không ghi vào giấy vay tiền. Ngày 28/06/2023, anh Hoàng Kim C có vay của ông B số tiền là: 200.000.000₫ (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng) Anh C đã nhận đủ số tiền 200.000.000đ. Anh C đã ký và viết họ tên vào mục Người vay tại Giấy vay tiền ngày 28/6/2023. Anh C hẹn ông B đến ngày 28/12/2023 sẽ trả số tiền trên. Khi vay hai bên thống nhất thoả thuận lãi xuất bằng miệng với nhau là 1,3%/ tháng (tại phiên tòa xác định lại là 1,5%/tháng), không ghi vào giấy vay tiền. Tổng số tiền anh C vay ông B là 700.000.000₫.

Đến ngày 06/02/2024, anh C đã trả cho ông B số tiền là: 100.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn).

Đến ngày 18/04/2025, đã quá thời hạn trả nợ rất lâu, ông B đã gọi điện và đến tận nhà rất nhiều lần để đòi nợ, tuy nhiên, anh Hoàng Kim C vẫn trây ỳ và tìm đủ mọi lý do không trả nợ cho ông B.

Tại phiên tòa ngày 26/5/2025, ông B, anh H đề nghị anh C phải trả cho ông B tổng số tiền là 773.000.000₫ của hai giấy vay tiền nêu trên từ ngày 07/7/2023 đến hết ngày 26/5/2025 (trong đó tiền gốc 600.000.000đ, tiền lãi là 173.000.000₫). Ngoài ra, ông B, anh H không đề nghị anh C phải trả bất kỳ khoản gốc lãi nào khác tính đến hết ngày 26/5/2025.

Phía bị đơn anh Hoàng Kim C trình bày: Do mối quan hệ quen biết nên ngày 07/02/2023 anh C có vay của ông Trần Ngọc B số tiền là 500.000.000đ. Anh hẹn ông B đến ngày 07/8/2023 sẽ hoàn trả số tiền trên cho ông B. Khi vay hai bên thoả thuận lãi suất là 1,3%/ tháng. Anh đã nhận đủ số tiền 500.000.000₫ từ ông B. Anh là người ký và viết tên vào mục Người vay tiền trong giấy vay tiền ngày 07/02/2023.

Ngày 28/6/2023 anh có vay của ông Trần Ngọc B số tiền là 200.000.000₫. Anh hẹn ông B đến ngày 28/12/2023 sẽ hoàn trả số tiền trên cho ông B. Khi vay hai bên thoả thuận lãi suất là 1,3%/ tháng (tại phiên tòa anh C xác định lại là 1,5%/tháng). Anh đã nhận đủ số tiền 200.000.000đ từ ông B. Anh là người ký và viết tên vào mục Người vay trong giấy vay tiền ngày 28/6/2023.

Anh xác định có vay của ông B 02 lần vào các ngày 07/02/2023 và ngày 28/6/2023 tổng số tiền là 700.000.000đ. Anh xác nhận đã trả cho ông B 100.000.000đ tiền gốc. Anh xác định hiện nay anh còn nợ ông B 600.000.000₫ tiền gốc. Tại phiên tòa, ông B và anh H đề nghị anh phải trả tổng số tiền 773.000.000đ (trong đó có 600.000.000đ tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 26/5/2025 là 173.000.000₫), anh chỉ nhất trí trả tiền gốc còn nợ lại cho ông B, tiền lãi anh không nhất trí trả.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị Vân A Trình bày: Chị là vợ của anh C. Về việc vay tiền của anh C ngày 28/6/2023 với số tiền 200.000.000đ và ngày 07/02/2023 với số tiền 500.000.000đ chị không hề biết, đây chỉ là khoản vay riêng của anh C chứ không phải là nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Về giấy vay tiền ngày 07/2/2023 với số tiền 500.000.000₫ là anh C vay, thời hạn đến ngày 07/8/2023 thì anh C phải hoàn trả lại cho ông B. Theo giấy vay tiền này anh C và ông B không thỏa thuận về lãi nhưng trên thực tế là có trả lãi. Cụ thể từ ngày 7/3/2023 đến ngày 07/6/2023 anh C đã trả cho ông B 26.000.000đ, ngày 07/7/2023 anh C trả 5.000.000đ, từ đó do khó khăn nên anh C không trả được cho ông B nữa nên hiện nay ông B khởi kiện anh C thì anh C phải có trách nhiệm trả cho ông B số tiền gốc 500.000.000đ theo và số tiền lãi theo thỏa thuận.

Về giấy vay tiền ngày 28/6/2023, anh C có vay của ông B số tiền 200.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 28/12/2023. Trong quá trình vay thì anh C đã trả được cho ông B vào tháng 7,8,9,10,11/2023 mỗi tháng 3 triệu đồng. Đến khoảng tháng 01/2024 do anh C nợ và ông B đòi nhiều chị mới biết bởi anh C kể. Sau đó, chị có lên một mình để gặp ông B xác minh việc vay nợ thì chị mới nắm được sự việc. Sau đó, ngày 06/02/2024 vợ chồng chị có mang 100.000.000₫ đến trả cho ông B nên anh C mới còn nợ lại 100.000.000đ tiền gốc. Chị có ký xác nhận vào mục người trả tiền mang tên Phùng Thị Vân A và chữ ký, chữ viết trong giấy vay này là của chị. Nay ông B đề nghị anh C phải trả 100.000.000đ tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Chị xác định đây là khoản vay riêng của anh C với ông B không liên quan đến chị, do vậy anh C phải có trách nhiệm trả cho ông B.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về số tiền lãi: Tổng lãi của khoản vay 500.000.000₫ mà anh C theo quy định của pháp luật còn phải trả cho ông B tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 211.800.750đ. Tổng lãi của khoản vay 200.000.000₫ mà anh C theo quy định của pháp luật còn phải trả cho ông B tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 44.072.500đ. Tổng lãi của 02 khoản vay này là 855.873.250 đồng.

Tại phiên tòa, ông B và anh H đề nghị anh C trả toàn bộ số tiền lãi của khoản vay gốc 500.000.000 đồng là 144.500.000 đồng, tiền lãi của khoản vay gốc 200.000.000 đồng là 28.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi của hai khoản vay là 173.000.000 đồng tính đến hết ngày 26/5/2025 (có bảng tính tiền lãi nguyên đơn, bị đơn đã giao nộp, lưu trong hồ sơ). Xét mức lãi mà ông B, anh H đưa ra là thấp hơn mức lãi mà anh C chịu theo quy định pháp luật. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn.

- Đề nghị buộc anh Hoàng Kim C phải trả cho ông Trần Ngọc B tổng số tiền tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 773.000.000₫ (Bảy trăm bảy mươi ba triệu đồng). Trong đó tiền gốc là 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng), tiền lãi tính đến hết ngày 26/5/2025 là 173.000.000đ (một trăm bảy mươi ba triệu đồng) của giấy vay tiền ngày 07/02/2023 và ngày 28/06/2023.

- Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Bùi Thị Thanh N trình bày: Nhất trí với quan điểm của ông B và anh H tại phiên tòa tòa ngày 26/5/2025 với nội dung ông B, anh H đề nghị anh C phải trả cho ông B tổng số tiền là 773.000.000₫ của hai giấy vay tiền nêu trên từ ngày 07/7/2023 đến hết ngày 26/5/2025 (trong đó tiền gốc 600.000.000đ, tiền lãi là 173.000.000₫). Ngoài ra, ông B, anh H không đề nghị anh C phải trả bất kỳ khoản gốc lãi nào khác tính đến hết ngày 26/5/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các đương sự; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Theo như nội dung đơn khởi kiện của ông B thì đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn: Ông Trần Ngọc B và bị đơn: Anh Hoàng Kim C. Bị đơn có cư trú tại huyện P nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Chị A vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Anh là phù hợp.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông B, lời trình bày của ông B, đại diện theo ủy quyền của ông B, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, ý kiến của anh C, chị A. Hội đồng xét xử nhận định.

[2.1].Về số tiền gốc:

- Về giấy vay tiền ngày 07/02/2023 có nội dung anh C vì công việc làm ăn kinh doanh nên anh có vay của ông B số tiền 500.000.000đ. Anh có hẹn ông B đến ngày 07/8/2023 sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền trên. Ở dưới mục người vay tiền có chữ ký, chữ viết của anh C. Xét về giấy vay tiền trên, anh C xác định chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền này là của anh và thừa nhận anh còn nợ ông B số tiền gốc 500.000.000đ này và anh chưa trả được cho ông B số tiền gốc nào của số tiền 500.000.000đ, lời trình bày của anh C phù hợp với lời trình bày của ông B, đại diện theo ủy quyền của ông B, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị A nên cần xác định anh C có vay của ông B số tiền gốc 500.000.000đ theo giấy vay tiền ngày 07/02/2023 là có thật, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự do các đương sự đã thừa nhận. Do đó, anh C phải có nghĩa vụ trả cho ông B số tiền gốc 500.000.000₫ theo giấy vay tiền ngày 07/02/2023 là phù hợp.

- Về giấy vay tiền ngày 28/6/2023 có nội dung “Hôm nay Ngày 28/6/2023. Anh C có vay tiền ông B số tiền 200.000.000đ, mục đích vay kinh doanh. Lãi suất hai bên thỏa thuận. Anh cam kết và hẹn ông B đến ngày 28/12/2023 sẽ trả đầy đủ số tiền trên. Nếu sai ông B có quyền khiếu nại anh tại cơ quan có thẩm quyền”. Dưới mục người vay có chữ ký, chữ viết của anh Hoàng Kim C. Ở trang hai của giấy vay tiền có thể hiện ngày 06/2/2024, trả cho bác B 100.000.000₫ tiền gốc, còn nợ lại 100.000.000₫ và dưới mục người trả tiền có chữ ký, chữ viết của chị Phùng Thị Vân A (vợ anh C) và chữ ký, chữ viết của anh C, người nhận là ông B. Nay ông B, anh H đề nghị anh C trả số tiền 100.000.000đ, anh C cũng nhất trí trả số tiền này, chị A xác định khoản vay này là khoản vay riêng không liên quan đến chị nên anh C phải có trách nhiệm trả cho ông B. Xét ý kiến của các đương sự thấy rằng: Số tiền gốc 200.000.000₫ là khoản vay riêng của anh C đối với ông B vì tại thời điểm ký, viết lập giấy vay tiền ngày 28/6/2023 thì chỉ có ông B, anh C thỏa thuận và lập giấy không có chị A có mặt ở đó và xác nhận, chị A cũng xác định chị A không có mặt vào thời điểm ngày 07/02/2023. Mặt khác, số tiền 100.000.000₫ mà chị A, anh C đem trả cho ông B ngày 06/02/2024 là tài sản chung của chị A, anh C và chị A tự nguyện dùng phần tài sản chung này để thực hiện nghĩa vụ trả nợ riêng của anh C đối với ông B chứ bản thân chị A không hề vay của ông B bất kỳ khoản tiền nào. Tại phiên tòa, ông B, anh H đề nghị anh C phải trả 100.000.000đ cho ông B và anh C không phản đối nên anh C phải có trách nhiệm trả cho ông B số tiền nợ gốc còn nợ lại của giấy vay tiền ngày 28/6/2023 là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

[2.2]. Về số tiền lãi:

[2.2.1].Về giấy vay tiền ngày 07/02/2023 thể hiện anh C có trả cho ông B tiền lãi như sau: Ngày 07/3/2023, anh C trả cho ông B 6.500.000đ; Ngày 07/4/2023, anh C trả cho ông B 6.500.000đ; Ngày 07/5/2023, anh C trả cho ông B 6.500.000đ; Ngày 07/6/2023, anh C trả cho ông B 6.500.000đ; Ngày 07/7/2023, anh C trả cho ông B 5.000.000đ (thiếu 1.500.000đ). Như vậy, tổng cộng anh C đã trả cho ông B tổng cộng số tiền lãi là 31.000.000đ. Theo như giấy vay tiền ngày thì thời hạn hai bên thỏa thuận đến ngày 07/8/2023 sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền trên, sau đó ngày 10/9/2023 hai bên gia hạn khoản vay này đến ngày 10/12/2023 thì anh C phải trả cho ông B số tiền gốc 500.000.000đ nên thời điểm vay trong hạn được xác định tính đến hết ngày 10/12/2023 đối với khoản vay 500.000.000₫ này. Đối chiếu thời điểm trả lãi của anh C với thời gian hẹn trả thì xác định đây là khoản tiền lãi trong hạn mà anh C trả cho ông B. Theo như ông B trình bày khi vay hai bên thống nhất thoả thuận lãi xuất bằng miệng với nhau là 1,3%/ tháng, không ghi vào giấy vay tiền. Phía anh C cũng không phản đối và xác định mức lãi suất khoản vay này 1,3%/ tháng. Lời trình bày của ông B và anh C phù hợp với số tiền lãi mà anh C đã trả, mức lãi suất này cũng phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 (không vượt quá 20%/năm). Thời điểm nợ gốc quá hạn của số tiền gốc 500.000.000đ được tính từ ngày 11/12/2023 đến thời điểm xét xử. Do vậy, theo quy định của pháp luật anh C phải trả cho ông B số tiền lãi của số tiền gốc 500.000.000đ như sau:

  • + Tiền lãi trong hạn: 500.000.000đ x 1,3%/tháng x 10 tháng 03 ngày (từ ngày 07/02/2023 đến hết ngày 10/12/2023) = 65.650.000đ. Anh C đã trả cho ông B 31.000.000₫ nên tiền lãi trong hạn anh C còn phải trả ông B là 34.650.000đ.
  • + Tiền lãi quá hạn: 500.000.000₫ x 1,95%/tháng (150% lãi trong hạn) x 01 năm 5 tháng 15 ngày (từ ngày 11/12/2023 đến hết ngày 26/5/2025) = 170.625.000₫.
  • + Lãi trên nợ lãi chưa trả: 34.650.000₫ x 10%/năm x 01 năm 10 tháng 18 ngày (từ ngày 08/7/2023 đến ngày 26/5/2025) = 6.525.750đ.

Tổng lãi của khoản vay 500.000.000₫ mà anh C theo quy định của pháp luật còn phải trả cho ông B tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 211.800.750đ.

[2.2.2]. Về giấy vay tiền ngày 28/6/2023 thể hiện anh C có trả cho ông B tiền lãi như sau: Tháng 7/2023 anh C trả cho ông B 3.000.000đ, Tháng 8/2023 anh C trả cho ông B 3.000.000đ, Tháng 9/2023 anh C trả cho ông B 3.000.000₫, Tháng 10/2023 anh C trả cho ông B 3.000.000đ, Tháng 11/2023 anh C trả cho ông B 3.000.000đ. Tổng anh C đã trả lãi cho ông B là 15.000.000đ. Do hai bên cam kết là đến ngày 28/12/2023 sẽ trả cho ông B số tiền gốc 200.000.000đ. Ngày 06/02/2024 anh C đã trả cho ông B 100.000.000đ tiền gốc và từ thời điểm ngày 06/02/2024 thì anh C chỉ còn nợ ông B 100.000.000đ tiền gốc quá hạn. Do vậy, tiền lãi của số tiền nợ gốc 200.000.000đ (tính đến ngày 05/02/2024)

  • + Tiền lãi trong hạn: tiền gốc 200.000.000₫ x 1,5%/tháng x 6 tháng (từ ngày 28/6/2023 đến hết ngày 28/12/2023) = 18.000.000đ, anh C đã trả lãi trong hạn 15.000.000 nên còn nợ lãi trong hạn là 3.000.000đ.
  • + Tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc quá hạn 200.000.000₫ x 2,25%/tháng (150% lãi trong hạn) x 01 tháng 06 ngày (từ ngày 29/12/2023 đến hết ngày 05/2/2024) = 5.400.000đ và tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc quá hạn 100.000.000đ (tính từ ngày 06/02/2024 đến ngày 26/5/2025) là 100.000.000₫ x 2,25%/tháng (150% lãi suất trong hạn) x 01 năm 03 tháng 20 ngày là 35.250.000₫.
  • + Lãi trên nợ lãi chưa trả: 3.000.000₫ x 10%/năm x 01 năm 04 tháng 27 ngày (từ ngày 29/12/2023 đến hết ngày 26/5/2025) = 422.500đ.

Tổng lãi của khoản vay này mà anh C theo quy định của pháp luật còn phải trả cho ông B tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 44.072.500đ.

[2.2.3]. Tại phiên tòa, ông B và anh H đề nghị anh C trả toàn bộ số tiền lãi của khoản vay gốc 500.000.000₫ là 144.500.000đ, khoản vay gốc 200.000.000₫ là 28.500.000đ. Tổng của hai khoản vay là 173.000.000₫ tính đến hết ngày 26/5/2025 (có bảng tính tiền lãi lưu trong hồ sơ). Xét mức lãi mà ông B, anh H đưa ra là thấp hơn mức lãi mà anh C chịu như phân tích ở trên. Đây là ý chí tự nguyện của ông B, anh H và có lợi cho anh C nên chấp nhận mức lãi phía nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đưa ra với số tiền 173.000.000₫ của hai khoản vay là phù hợp.

[2.3]. Từ phân tích ở mục [2.1, [2.2] nêu trên, cần buộc anh C phải trả cho ông B tổng cộng số tiền gốc và lãi của hai giấy vay tiền ngày 07/02/2023, 28/06/2023 là 773.000.000₫ (Bảy trăm bảy mươi ba triệu đồng). Trong đó tiền gốc là 600.000.000đ, tiền lãi tính đến hết ngày 26/5/2025 là 173.000.000đ.

[3].Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Xét trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên được xem xét khi quyết định.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Ngọc B

- Buộc anh Hoàng Kim C trả cho ông Trần Ngọc B tổng số tiền tính đến hết ngày 26/5/2025 là: 773.000.000₫ (Bảy trăm bảy mươi ba triệu đồng). Trong đó tiền gốc là 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng), tiền lãi tính đến hết ngày 26/5/2025 là 173.000.000đ (một trăm bảy mươi ba triệu đồng) của giấy vay tiền ngày 07/02/2023 và ngày 28/06/2023.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Anh Hoàng Kim C phải chịu 34.920.000đ (Ba mươi tư triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Anh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger