TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 04 - 2025
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Văn Dương
Ông: Nguyễn Đắc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2025, về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chi Lê Thị X – Sinh năm: 1989 (Có mặt)
Địa chỉ: TK E, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Mai Công T - Sinh năm: 1985 (Vắng mặt)
HKTT: TK E, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Lê Thị X trình bày như sau:
Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là phường X, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10/02/2011.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, quan điểm bất đồng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2019 chị và anh T sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Quá trình giải quyết vụ án anh Mai Công T có quan điểm như sau:
Về thời gian, địa điểm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị X trình bày là đúng. Từ năm 2019 anh chị đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị X muốn ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Chị X và anh T có 02 con chung là cháu: Mai Thu T1 - sinh ngày: 12/01/2012 và Mai Quốc C - Sinh ngày: 30/10/2015. Cả chị X và anh T đều có nguyện vọng giao cháu T1 cho chị X nuôi dương, giao cháu C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cháu T1 có nguyện vọng muốn được ở với mẹ còn cháu T có nguyện vọng được ở cùng với bố.
Cả chị X và anh T đều đồng ý với nguyện vọng của các cháu và không yêu cầu các bên phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 55, khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị X và anh Mai Công T. Về con chung: Giao cháu T1 và cháu C cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị X. Anh T được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí: Buộc chị X phải chịu án phí DSST về việc hôn nhân gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Mai Công T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh tài có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị X đều xác định vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh chị đã nhiều lần hòa giải tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Cả anh T và chị X đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Do anh T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án không thể lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành mà buộc phải đưa vụ án ra xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của chị X và anh T.
[3] Về con chung: Chị X và anh T có 02 con chung là cháu: Mai Thu T1 - sinh ngày: 12/01/2012 và Mai Quốc C - Sinh ngày: 30/10/2015. Cả chị X và anh T đều có nguyện vọng giao cháu T1 cho chị X nuôi dưỡng, giao cháu C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của anh chị phù hợp với nguyện vọng của các cháu cháu vì vậy HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu T1 cho chị X nuôi dưỡng, giao cháu C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự đều không có yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự hơn nữa mỗi người nuôi một cháu nên HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận trên.
Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị X phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 55; khoản 2 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị X
- Về hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản và công nợ chung:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị X và anh Mai Công T.
Chị X và anh T có 02 con chung là cháu: Mai Thu T1 - sinh ngày: 12/01/2012 và Mai Quốc C - Sinh ngày: 30/10/2015. Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự giao cháu T1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.
Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
Chị Lê Thị X phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0005982 ngày 13/03/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị X đã thi hành xong phần án phí.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Chị X được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Anh T được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là phường X, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10/02/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, quan điểm bất đồng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2019 chị và anh T sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
