TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số:12/2025/HNGĐ-PT Ngày: 11/4/2025 "V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 14 tháng 02 và ngày 11 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình phúc thẩm, thụ lý số 24/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02/10/2024, về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung vợ chồng ". Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ- ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXPT – HNGĐ ngày 22/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐ-PT ngày 25/12/2024, Quyết định tạm ngừng số 02/2025/QĐ-PT ngày 14/02/2025; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 65/TB-TA ngày 07/3/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 77/TB-TA ngày 13/3/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim A - sinh năm 1990 ( có mặt).
HKTT: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. - Bị đơn: Anh Trần Anh P - sinh năm 1985 ( có mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ông Đặng Văn H, sinh năm 1955 ( có mặt).
- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1958 ( có mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T: Bà Vũ Lê Thu T1, sinh năm 1979 ( có mặt).
Địa chỉ: P -N tập thể Đại Học C, ngõ A T, phường Q, quận Đ, TP Hà Nội. Bà T1 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ngân hàng hợp tác xã (C2) chi nhánh H6, Phòng giao dịch số 02. Đại diện phòng giao dịch số 02 - Bà Vũ Thị Cẩm V - Trưởng Phòng. Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Bà Bùi Hải A1 - Cán bộ Phòng tín dụng (vắng mặt).
- - Xí Nghiệp Khai Thác Công Trình Thủy Lợi huyện G: Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Thanh T2 - chức vụ Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh T2 - ông Bùi Hữu Đ, sinh năm 1974, chức vụ Phó chủ tịch Công Đoàn cơ sở thành viên Xí Nghiệp Khai Thác Công Trình Thủy Lợi huyện G (vắng mặt).
- - Chị Đặng Thị Thanh M, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. - - Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1965 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1966 (có mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
- Những người làm chứng:
- + Ông Trần Văn V1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1959; đều trú tại địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị Hồng V2. Giám đốc Công ty TNHH T5; địa chỉ: Số E phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Đặng Văn H2, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Bà Phạm Thị Vân A2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Hữu L1; địa chỉ: Số H L, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Trần Quốc H4, sinh năm 1962; địa chỉ: Số H, ngõ B, phố G, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Tiến K, sinh năm 1960; địa chỉ: xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1974.
Địa chỉ : Xã X, K, Huyện G, TP. Hà Nội.
- Người kháng cáo: Anh Trần Anh P - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ- ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:
Theo nguyên đơn - chị Đặng Thị Kim A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Anh P kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 18/10/2014. Trước khi kết hôn chị và anh P được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh P thường xuyên chơi bời, không tu chí làm ăn, không chăm sóc vợ con,... chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được, vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2022, đến tháng 05 năm 2023 chị đã làm đơn xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc. Sau đó vì nghĩ thương các con nên chị đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên mâu thuẫn vẫn không được khắc phục, vợ chồng vẫn sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về quan hệ con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Trần Khải A3, sinh ngày 10/10/2015 và Trần Linh C, sinh ngày 14/10/2017. Hiện tại cả hai con đều đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho hai con là 3.000.000đ/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng từ tháng 07 năm 2024 đến khi hai con trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về quan hệ tài sản chung: Chị xác định chị và anh P không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị xác định vợ chồng có các khoản vay chung như sau:
- - Vay của Quỹ du lịch của Công Đoàn Xí Nghiệp Khai Thác Công Trình Thủy Lợi huyện G số tiền 25.250.000đ. Chị Kim A đã trực tiếp trả hết số tiền nợ trên.
- - Vay của Ngân hàng H7 chi nhánh H6, phòng G, số tiền 200.000.000đ; Chị Kim A đã trả số tiền gốc và lãi là 28.750.000đ, một số lần anh P trả, hiện tại còn nợ Ngân hàng 134.618.297đ.
- - Anh P là người vay của chị Đặng Thị Thanh M số tiền 76.000.000đ, chị Kim A đã trực tiếp trả chị M số tiền 76.000.000đ.
Toàn bộ số tiền đã trả nợ trên là chị lấy từ số tiền chung của chị và anh P tích góp được, tổng là 130.000.000đ. Số tiền này vay là để cho anh P sử dụng kinh doanh. Nay ly hôn chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo bị đơn - anh Trần Anh P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh P xác định anh và chị Kim A kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Kim A không chung thủy với anh, có quan hệ với người đàn ông khác, nhưng vì thương các con nên anh đồng ý tha thứ để vợ chồng về đoàn tụ. Tháng 05 năm 2023, chị Kim A làm đơn đến Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc để giải quyết việc ly hôn, sau đó lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên sau khi rút đơn, chị Kim A vẫn không thay đổi tính nết, chị Kim A được gia đình hậu thuẫn nên anh cũng không có biện pháp gì đểu níu kéo tình cảm vợ chồng. Nay chị Kim A xin ly hôn, ban đầu anh có quan điểm không đồng ý ly hôn, sau đó anh thay đổi quan điểm, anh đồng ý ly hôn với chị Kim A.
Về quan hệ con chung: Anh P xác định anh và chị Kim A có 02 con chung như chị Kim A trình bày. Hiện 2 con đang ở với chị Kim A. Ly hôn anh đề nghị Toà án giao cho mỗi người nuôi một con.
Về quan hệ tài sản chung: Anh xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 ngôi nhà 02 tầng xây năm 2019 trên thửa đất số 152, tờ bản đồ số 03, diện tích 470 m2 đứng tên ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị T, nhà đất có địa chỉ tại thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nguồn tiền xây dựng nhà là do ông H1, bà L cho vợ chồng anh 300.000.000đ và giao cho ông H, bà T quán xuyến xây nhà cho vợ chồng anh, số tiền còn lại là của vợ chồng anh, đồng thời vợ chồng có vay mượn thêm của anh chị và Công ty X. Ngoài ra vợ chồng anh còn có số tiền 130.000.000đ là tiền kinh doanh xăng dầu của anh, vợ chồng có đưa cho ông H1, bà L để mua chung mảnh đất vào đầu năm 2019, tổng số tiền mảnh đất là 480.000.000đ. Tuy nhiên đến cuối năm 2019, ông H1, bà L cùng ông H, bà T có gọi bố mẹ anh đến để trao đổi về việc cho vợ chồng anh thửa đất trên để vợ chồng anh xây nhà nuôi con. Cũng trong buổi họp gia đình này ông H1, bà L đưa lại cho ông H, bà T số tiền 130.000.000đ để cho ông H, bà T chi trả tiền vật liệu xây dựng làm nhà. Anh P có quan điểm để ngôi nhà 02 tầng này cho các con.
Về nợ chung: Anh xác định vợ chồng có 03 khoản nợ như chị Kim A trình bày gồm: Vay của Quỹ du lịch của Công Đoàn Xí Nghiệp Khai Thác Công Trình Thủy Lợi huyện G số tiền 25.250.000đ; Vay của Ngân hàng H7 chi nhánh H6, phòng G, số tiền 200.000.000đ; Vay của chị Đặng Thị Thanh M số tiền 76.000.000đ, tuy nhiên vợ chồng chưa thanh toán một khoản vay nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị T, người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T - bà Vũ Lê Thu T1 trình bày:
Vợ chồng ông H, bà T có thửa đất số 152, tờ bản đồ số 03, diện tích 470m2, địa chỉ tại: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Năm 2003 ông H, bà T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1981, ông H, bà T đã xây dựng 01 ngôi nhà mái bằng trên đất. Ngôi nhà này đã bị phá đi 1 phần ở phía sau, phần còn lại hiện nay đang làm nhà kho. Năm 2011 ông H, bà T xây 01 nhà 03 tầng, phía trước có xây quán bán hàng. Năm 2019, vợ chồng bàn bạc tiếp tục xây 01 nhà 02 tầng diện tích khoảng 60m2, phía trước giáp mặt đường liên xã và làm mái tôn có diện tích khoảng 25m2, tổng giá trị hết khoảng 500 triệu đồng. Do mục đích xây dựng nhà để kinh doanh nên không thiết kế khu phụ như: Bếp nấu, phòng ăn và khu phơi quần áo. Khoảng tháng 9 năm 2019, vợ chồng chị Kim A có hỏi "cho vợ chồng con mượn nhà mới xây để kinh doanh", do chưa có phương án kinh doanh, và cũng vì thương con chưa có chỗ ở nên vợ chồng ông H, bà T đã đồng ý cho chị Kim A và anh P mượn nhà. Sau đó đến năm 2020, do dịch C1 nên điều kiện làm ăn khó khăn, anh P lại tiếp tục xin mượn nhà để vợ chồng con cái ở, vì thương con nên ông bà đã đồng ý. Năm 2023, ông Bà yêu cầu chị Kim A và anh P trả nhà cho ông bà nhưng anh P nhất định không trả và cãi láo, yêu cầu ông bà phải thừa nhận đây là nhà, đất ông bà đã cho anh P. Do bất bình với hành động của anh P, đồng thời tại thời điểm này vợ chồng chị Kim A và anh P đã mâu thuẫn rất căng thẳng, chị Kim A đã làm đơn ly hôn gửi Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, nên chị Kim A và 2 con đã dọn xuống ở cùng với ông bà tại nhà 03 tầng. Tại thời điểm này, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc tiếp tục thụ lý giải quyết việc ly hôn của chị Kim A và anh P nên ông H, bà T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc buộc anh P trả lại tài sản là nhà đất cho ông bà. Để chứng minh tài sản của mình ông bà đã nộp cho Tòa án giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài lệu liên quan đến việc xây dựng nhà 02 tầng năm 2019. Riêng đối với tiền sơn nhà, anh P nói là có bạn làm nên để cho anh P gọi S cho, ông H đã trả tiền công thợ sơn hết 5 triệu đồng, còn tiền sơn nếu anh P yêu cầu ông sẽ trả. Ngoài ra ông H còn nộp các bản phô tô thể hiện số tiền gửi của ông tại Ngân hàng N1 L2 và Quỹ tín dụng nhân dân trước và sau khi xây dựng nhà. Tổng số tiền khoảng 1 tỷ đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đặng Văn H1 và bà Vũ Thị L trình bày:
Vợ chồng ông bà có 02 thửa đất và 01 nhà chung cư gồm: 01 thửa đất vợ chồng đã xây dựng nhà để ở có nguồn gốc là do ông cha để lại; 01 thửa đất gần nhà mẫu giáo xã G, mua năm 2018, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/9/2018, mang tên Đặng Văn H1 và Vũ Thị L. Anh P khai đã cùng chị Kim A bỏ ra số tiền 130.000.000đ để chung với ông bà mua thửa đất này là không đúng. Ông H1, bà L cũng xác định không cho anh P, chị Kim A số tiền 300.000.000đ để cho vợ chồng chị Kim A xây dựng nhà, đồng thời cũng xác định không có việc khi xây dựng nhà vợ chồng ông bà đến nhà ông H, bà T cùng bố mẹ đẻ anh P là ông V1, bà B để bàn bạc xây dựng nhà cho anh P và chị Kim A. Theo ông bà Ông H, bà T có đủ điều kiện để xây dựng nhà mà không cần vay mượn ông bà, nên cũng không có việc ông bà đưa cho ông H, bà T số tiền 130.000.000đ.
Người đại diện của xí nghiệp khai thác Công trình thủy lợi huyện G (nơi chị Kim A công tác) - ông Bùi Hữu Đ, Phó chủ tịch công đoàn cơ sở trình bày:
Ngày 17/12/2021 trên cơ sở đơn đề nghị của chị Kim A, Công đoàn xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi huyện G đã cho chị Kim A vay số tiền 25.000.000đ, trích ra từ quỹ đi du lịch. Đến ngày 16/2/2023, chị Kim A đã trả đủ cả gốc và lãi số tiền 25.250.000đ. Hiện tại chị Kim A không còn nợ xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi huyện G.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị Thanh M trình bày:
khoảng tháng 04 năm 2022, anh P tìm gặp chị và hỏi vay tiền để lo tiền hàng của cây xăng, chị đã cho anh P vay số tiền 76.000.000đ, đây là số tiền chị dành riêng để chuẩn bị đi học chuyên khoa I ngành y Khoa, chị có nói đến thời điểm nhập học khoảng tháng 10 năm 2022 phải trả chị nhưng anh P không trả, chị đã đòi nhiều lần (chị đã làm vi bằng ghi lại toàn bộ nội dung nói chuyện tin nhắn qua Z, thừa nhận việc vay tiền và việc anh P không có khả năng thanh toán nợ), đến ngày 11/10/2023 chị nhập học không có tiền nên chị đã gặp chị Kim A trao đổi và chị Kim A đã trả chị số tiền 76.000.000đ.
Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng H7 (C) chi nhánh H6, Phòng giao dịch số 02 - bà Vũ Thị Cẩm V trình bày:
Theo hợp đồng cho vay số: TD310 - 130122HA ngày 13 tháng 01 năm 2022 giữa Ngân hàng H7 chi nhánh H6 - phòng giao dịch số 02 với chị Đặng Thị Kim A và anh Trần Anh P thì Ngân hàng đã cho chị Kim A và anh P vay số tiền 200.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng; mức lãi suất cho vay 7,5%, bảo đảm tiền vay bằng thu nhập tiền lương, trợ cấp và các thu nhập khác của chị Kim A, thời hạn hợp đồng vẫn còn. Anh P và chị Kim A vẫn đang trả nợ cho Ngân hàng. Tổng số tiền anh P, chị Kim A đã trả là 134.618.297đ (gồm gốc là 132.365.000đ; lãi là 2.253.297đ). Trong đó chị Kim A trả 28.750.000đ. Nay chị Kim A và anh P ly hôn, do chị Kim A là người đảm bảo khoản vay nên Ngân Hàng đề nghị Tòa án buộc chị Kim A phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền gốc, lãi là và tiếp tục trả lãi theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đế khi thanh toán xong khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng.
Lời khai của những người làm chứng:
Ông Đặng Văn H2 là người trực tiếp xây dựng nhà 2 tầng xác định ông Đặng Văn H là người thuê và trực tiếp trả tiền xây dựng, tổng số tiền là 100.000.000đ. Bà Phạm Thị H3 là người trực tiếp bán cát, đá, gạch xây nhà cho ông H xác định ông H trực tiếp thanh toán số tiền 59.860.000đ. Ông Phạm Văn T3 xác định ông là người cung cấp 01 số bộ cửa, 05 bộ cửa phòng khung nhôm kính, cửa lách N, 03 bộ cửa cháp lật, 01 bộ cửa xếp cho ông H, ông H chi trả số tiền là 36.400.000đ. Ông Trần Quốc H4 cung cấp vật tư, sắt, thép tôn cho ông H xác định ông H đã trả số tiền 13.643.000đ. Ông Nguyễn Hữu L1 là người cung cấp thiết bị điện, nước để xây dựng ngôi nhà xác định ông H đã thanh toán toàn bộ số tiền 39.203.000đ. Bà Phạm Thị Vân A2 là người bán xi măng cho ông H, xác định ông H là người mua và trực tiếp trả tiền số tiền 94.985.000đ. Ông Nguyễn Đình K1 ép cọc bê tông để xây dựng nhà cho ông H năm 2019, xác định ông H đã thanh toán số tiền là 58.050.000đ. Bà Nguyễn Thị Hồng V2 giám đốc công ty TNHH T5 đã thực hiện đổ bê tông tươi cho ngôi nhà ông H, xác định ông H trực tiếp thanh toán số tiền bê tông 40.400.000đ.
Cháu Trần Khải A3 là con chung của anh P và chị Kim A trình bày: Hiện tại cháu đang ở với mẹ và em cùng ông bà ngoại, còn bố cháu đi làm cuối tuần mới về chơi với cháu. Khi bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và em.
Kết quả thẩm định và định giá tài sản cho thấy:
Trên thửa đất số 152 đứng tên ông H, bà T có 03 ngôi nhà gồm: 01 nhà mái bằng một tầng đã phá một phần; 01 nhà 03 tầng và 01 nhà 02 tầng, trong đó tài sản đang tranh chấp là ngôi nhà mái bằng 02 tầng, diện tích 59,5 m2, có lán tôn phía trước, phía sau có 01 mái broximang, có tổng giá trị là 523.575.000đ. Về đất: Đất ở có giá là 4.500.000đ/m2; Đất trồng cây lâu năm có giá là 80.000đ/m2. Tổng giá trị đất là 1.363.600.000đ.
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ - ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83, khoản 2 Điều 27, Khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân gia đình, Điều 463, Điều 465, Điều 468; Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 186, Điều 189, Điều 190 Bộ luật dân sự; Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Kim A được ly hôn anh Trần Anh P.
- - Về con chung: Giao con chung Trần Khải A3, sinh ngày 10/10/2015 cho chị Kim A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; Giao con chung Trần Linh C, sinh ngày 14/10/2017 cho anh P nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Anh Trần Anh P, Chị Đặng Thị Kim A được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
- - Về nợ chung: Xác định nợ chung của chị Đặng Thị Kim A và anh Trần Anh P gồm: Nợ Xí Nghiệp Khai Thác công trình thủy lợi huyện G 25.250.000đ; Chị Đặng Thị Thanh M 76.000.000đ. Chị Kim A đã trả nợ xong cho Xí Nghiệp Khai thác thủy lợi huyện G và chị Đặng Thị Thanh M. Nguồn tiền trả nợ là từ số tiền tài sản chung của chị Kim A và anh P (130.000.000đ) có trong thời kỳ hôn nhân.
- Hiện tại chị Đặng Thị Kim A và anh Trần Anh P còn Nợ Ngân hàng hợp tác xã (C2) chi nhánh H6 - Phòng giao dịch số 02 số tiền 134.618.297đ. Buộc anh P và chị Kim A phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng mỗi người 67.309.149đ và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- - Xác định ngôi nhà 02 tầng diện tích 59,5m2 có lán tôn phía trước có diện tích 25,9m2; 01 mái broximang phía sau có diện tích 13,3m2 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị Tuyết . Buộc anh Trần Anh P hiện đang chiếm giữ ngôi nhà trái phép phải trả lại cho ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị Tuyết .
- Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 7 năm 2024 anh Trần Anh P có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về phần tài sản chung vợ chồng. Cụ thể, anh xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là tài sản chung của anh và chị Kim A, đề nghị cấp phúc thẩm chia tài sản chung vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa anh P, chị Kim A, ông H, bà T thoả thuận về ngôi nhà 2 tầng trên đất như sau: Xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là tài sản chung của ông H, bà T, anh P, chị Kim A. Giao cho ông H, bà T được quản lý, sử dụng ngôi nhà. Ông H, bà T có trách nhiệm trả cho anh P số tiền là 100.000.000 đồng, số tiền này ông H, bà T đã giao cho anh P tại phiên toà. Chị Kim A tự nguyện không yêu cầu ông H, bà T phải trả giá trị tài sản cho chị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Tại phiên toà các đương sự đã thống nhất được với nhau về việc phân chia tài sản. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Giao ngôi nhà 2 tầng trên đất cho ông H và bà T sử dụng. Ông H, bà T có trách nhiệm trả cho anh P số tiền 100.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trần Anh P kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[ 2] Về nội dung: Anh Trần Anh P kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là tài sản chung của anh và chị Kim A, đồng thời đề nghị chia tài sản chung vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa ông H, bà T, anh P và chị Kim A đã thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản chung như sau:
- - Xác định ngôi nhà 02 tầng diện tích 59,5m2, lán tôn phía trước có diện tích 25,9m2; 01 mái broximang phía sau có diện tích 13,3m2 (giáp hộ ông H5) nằm trên thửa đất số 152, tờ bản đồ số 03, diện tích 470m2 đứng tên ông H bà T, có địa chỉ tại thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương là tài sản chung của bà Vũ Thị T, ông Đặng Văn H, chị Đặng Thị Kim A và anh Trần Anh P.
- - Giao ngôi nhà 02 tầng trên đất cho ông H, bà T sử dụng. Ông H, bà T có trách nhiệm trả cho anh P 100.000.000đồng.
- Chị Đặng Thị Kim A tự nguyện không yêu cầu ông H, bà T phải trả cho chị giá trị tài sản mà chị được hưởng.
[3] Về án phí:
- - Về án phí sơ thẩm: Ông H, bà T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- - Anh P phải chịu án phí dân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí phúc thẩm: Anh P phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự
Chấp nhận 1 phần kháng cáo của anh Trần Anh P.
Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ- ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương về quan hệ tài sản chung như sau:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83, khoản 2 Điều 27, Khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân gia đình, Điều 463, Điều 465, Điều 468; Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 186, Điều 189, Điều 190 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Công nhận sự thỏa thuận của của chị Đặng Thị Kim A, anh Trần Anh P, bà Vũ Thị T và ông Đặng Văn H.
- - Xác định ngôi nhà 02 tầng, diện tích 59,5m2, lán tôn phía trước có diện tích 25,9m2; 01 mái broximang phía sau có diện tích 13,3m2 (giáp hộ ông H5) nằm trên thửa đất số 152, tờ bản đồ số 03, diện tích 470m2, địa chỉ tại: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị T, là tài sản chung của chị Đặng Thị Kim A, anh Trần Anh P, bà Vũ Thị T và ông Đặng Văn H.
- - Giao ngôi nhà 02 tầng trên đất cho ông H, bà T sử dụng. Ông H, bà T có trách nhiệm trả cho anh P 100.000.000đồng (anh P đã nhận đủ). Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị Kim A không yêu cầu ông H, bà T phải trả giá trị tài sản chung cho chị Kim A.
- Về án phí:
- - Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đặng Văn H và bà Vũ Thị Tuyết .
- Anh Trần Anh P phải chịu 5.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về án phí phúc thẩm: Anh P phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh P đã nộp theo biên lại thu số 0004639 ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, anh P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung vợ chồng
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung vợ chồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn
