Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 04-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đậu Thị Phú và ông Phạm Thanh Đông

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025, đối với bị cáo:

Trần Văn T

(tên gọi khác: R), sinh ngày 25/3/1992, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái máy công trình; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Về nhân thân: Ngày 19/01/2015 bị Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Ngày 01/3/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 20/2019/HS-PT;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2024 cho đến nay và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.

- Người làm chứng: Anh Đinh Minh T1. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 09/8/2024, Trần Văn T mua 1.200.000 đồng ma túy, loại hồng phiến của một người có tài khoản “Hoàng Đỉnh” ở xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (Tại thời điểm mua bán, giao nhận ma túy, T không kiểm tra số lượng bao nhiêu viên). Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày T điện thoại rủ Đinh Minh T1 đến nhà bà nội của T ở tại thôn P, xã Q, huyện Q để sử dụng ma túy, T1 đồng ý. Khi gặp nhau tại nhà bà nội của T thì có người tên là S, bạn học cấp 3 của T, ở xã Q, điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy, loại hồng phiến, T không nhớ số điện thoại của người đã gọi mua ma túy. T nói để xem đã và nói với T1 cần tiền chơi G thì bán ma túy đi đã. Sau đó, T bảo T1 đưa ma túy đến khu vực trước cổng trường Nguyễn Bỉnh K ở thôn P, xã Q, rồi T sẽ gọi người đến lấy. T1 để lại cho T 04 viên, số còn lại T1 mang đi bán. Lúc này, S điện thoại cho T, thì T nói đến trước cổng Trường Trung học phổ thông N sẽ có người giao ma túy cho. T1 đến điểm hẹn, thì chưa thấy người mua đến. Lúc này, T1 sử dụng ứng dụng Facebook “Trung Minh” nhắn tin đến Facebook “ Trần T” hỏi bán 500.000 đồng thì mấy viên, T trả lời 07 viên. Trong lúc T1 đang chờ giao ma túy thì bị Công an huyện Q phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng (Hành vi của Đinh Minh T1 đã bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện nay T1 đang thi hành án tại Trại giam Đ).

Kết luận giám định số 826/KL-KTHS ngày 17/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1, A2, A3 là chất ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng 2,781g (hai phẩy bảy trăm tám mươi mốt gam). Mẫu ký hiệu A4 gửi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng 0,172g (không phẩy một trăm bảy mươi hai gam).

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Trần Văn T: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9T, màu xanh, có gắn thẻ sim điện thoại số “0889.760.xxx”, đã qua sử dụng.

Đối với vật chứng là các chất ma túy thu giữ được trong quá trình bắt quả tang Đinh Minh T1, đã được xử lý vụ án của Đinh Minh T1 xét xử tại Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.

Vật chứng được chuyển xử lý theo thẩm quyền: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9T, màu xanh, có gắn thẻ sim điện thoại số “0889.760.xxx”, đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSQT ngày 08 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

3

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ sim số 0889.760.878.
  • + Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9T, màu xanh, đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma tuý mà mình đã thực hiện là vi phạm pháp luật, đã sai phạm. Bị cáo nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố, kết tội bị cáo. Bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

4

[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Vào ngày 09/8/2024, Trần Văn T đã có hành vi đưa ma túy cho Đinh Minh T1 đi bán ở khu vực trước cổng Trường Trung học phổ thông N thuộc thôn P, xã Q. Trong lúc đang đợi giao ma túy thì T1 bị bắt quả tang, thu giữ 2,781g ma túy loại Methamphetamine. Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà và trong giai đoạn điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận, bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây nên sự bức xúc, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được rõ hành vi mua bán là vi phạm pháp luật, gây tác hại, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội và bị lên án mạnh mẽ nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử, đã bị xử lý hành chính.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6]. Liên quan trong vụ án người có tài khoản facebook “Hoàng Đỉnh” đã bán ma túy cho T. Tuy nhiên, không rõ người đó là ai, tài khoản facebook của T là “Trần Tú” do quên mật khẩu đăng nhập nên đã bị khóa. T đã lập lại tài khoản facebook khác cũng có tên “Trần Tú” để sử dụng. Tiến hành tìm kiếm thông tin tài khoản facebook “H”, nhưng không có thông tin. Do đó, không đủ cơ sở để điều tra, xác minh đối tượng đã bán ma túy cho T, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về đối tượng mua ma túy của Trần Văn T: T trình bày có người tự xưng tên là S, trú tại xã Q, huyện Q là bạn học cấp 3 với T gọi điện thoại hỏi mua ma túy, nhưng T không nhớ số điện thoại, đồng thời qua xác minh không có ai tên là S bạn học cấp 3 với T. Do đó, không đủ cơ sở để làm rõ đối tượng đã liên hệ mua ma túy của T, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

5

[7] Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ.

[9] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ sim số 0889.760.878. Xác định, đây là vật chứng thuộc trường hợp vật không có giá trị, không sử dụng được ;
  • + Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9T, màu xanh, đã qua sử dụng. Xác định, đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc, mua bán trái phép chất ma tuý.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/10/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

6

  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ sim số 0889.760.878.
  • + Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9T, màu xanh, đã qua sử dụng.

Vật chứng có tình trạng, đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 16/01/2025.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger