TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 02-4-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị An Thư
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Dương
Ông Phạm Danh Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hồng T, (Tên gọi khác T1), sinh ngày 21/3/2003 tại huyện G, tỉnh Tiền Giang;
Căn cước công dân: [...], ngày cấp 05/6/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát Quản Lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp X, xã B, huyện G, Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 05/12; Con ông Lê Hồng C, sinh năm 1973, và bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 31/01/2024, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ra Quyết định số 173/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân.
Bị cáo Lê Hồng T bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2024; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam tại khu vực thành phố G, có mặt.
Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 03/9/2009, vắng mặt.
Địa chỉ liên hệ: Sô 0852, tổ 19, ấp 1, xã An Hữu, huyện Cái Bè, Tiền Giang.
Chỗ ở: Số 156, Trần Công Tường, khu phố 2, phường 5, thành phố Gò Công, Tiền Giang.
Người đại diện hợp pháp bị hại cháu Nguyễn Thị Trúc L: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1990 (là mẹ đẻ cháu L), có mặt.
Địa chỉ liên hệ: Số H, tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Tiền Giang.
Chỗ ở: Số156, Trần Công T3, khu phố B, phường E, thành phố G, Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Thị Trúc L: Bà Trần Lan A – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: khu phố L, phường L, thành phố G, Tiền Giang.
Người làm chứng:
1. Anh Lê Hồng N, sinh năm 1996, Có mặt
Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện G, Tiền Giang.
2. Ông Đặng Lê Hữu Đ, sinh năm 1965, Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố G, phường L, thành phố G, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2024, Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 03 tháng 9 năm 2009 quen biết và kết bạn với bị cáo qua mạng xã hội “Facebook”, sau đó L và bị cáo phát sinh tình cảm trai gái. Từ tháng 4 năm 2024, bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) với L, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, sau khi đã có nhậu cùng nhau thì L, bị cáo cùng 02 người bạn khác về nhà của bị cáo tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Tại đây, 02 người bạn của bị cáo ngủ võng ở bên ngoài, bị cáo rủ L vào phòng ngủ riêng của bị cáo. Cả hai nằm trên bộ ván làm bằng xi măng, lót gạch men màu xanh, sau đó bị cáo đã giao cấu với L, bị cáo không sử dụng bao cao su rồi cho dương vật xuất tinh vào bên trong âm đạo của L.
- Lần thứ hai: Trong khoảng thời gian từ ngày 19/4/2024 đến ngày 20/4/2024, bị cáo cùng L đến Nhà nghỉ “Ngọc N1” tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo thuê phòng số 103, tại đây bị cáo đã giao cấu với L, lần này bị cáo có sử dụng bao cao su khi giao cấu rồi cho dương vật xuất tinh vào bao cao su bên trong âm đạo của L. - Lần thứ ba: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/4/2024 đến ngày 22/4/2024, bị cáo cùng L tiếp tục đến Nhà nghỉ “Ngọc N1”. Bị cáo thuê phòng số 104, tại đây bị cáo đã giao cấu với L, bị cáo có sử dụng bao cao su khi giao cấu rồi cho dương vật xuất tinh vào bao cao su bên trong âm đạo của L.
- Lần thứ tư: Sau lần thứ ba khoảng hơn 01 giờ, Bị cáo tiếp tục giao cấu với L tại phòng số 104 của Nhà nghỉ “N. Bị cáo có mang bao cao su khi giao cấu rồi cho dương vật xuất tinh vào bao cao su bên trong âm đạo của L.
Đến ngày 15/5/2024, L và mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Ngọc H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Gò Công tố giác hành vi của bị cáo.
Theo Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 22-2024/KLTDTE-TTPY ngày 21/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Thị Trúc L như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Màng trinh hình răng cưa, màng trinh dãn rộng, vết rách cũ vị trí 02 giờ và 07 giờ tới chân màng trinh.
- Kết quả khám chuyên khoa: Màng trinh dãn rộng, vị trí khoảng 02 giờ có vết rách cũ tới chân màng trinh; vị trí khoảng 07 giờ có vết rách cũ tới chân màng trinh.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả thử thai: Âm tính.
+ Siêu âm: Tìm không thấy xác tinh trùng.
+ Soi tươi: Không tìm thấy xác tinh trùng.
2. Kết luận:
- Sau khi có kết quả khám lâm sàng, cận lâm sàng Nguyễn Thị Trúc L, ngày 21/5/2024, kết luận như sau:
+ Tình trạng màng trinh: Hình răng cưa, màng trinh dãn rộng, có vết rách cũ vị trí khoảng 02 giờ và 07 giờ tới chân màng trinh.
+ Tìm không thấy xác tinh trùng.
Theo Giấy trích lục khai sinh của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và biên bản xác minh tại Bệnh viện Đ1 thể hiện: Nguyễn Thị Trúc L được sinh vào ngày 03 tháng 9 năm 2009, cân nặng 3,4 kg. Nên tính đến ngày đầu tiên bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với L vào ngày 16/4/2024, thì L được 14 tuổi 07 tháng 13 ngày.
Bị cáo sinh vào ngày 21 tháng 3 năm 2003, nên tính đến ngày 16/4/2024 thì bị cáo đã trên 18 tuổi.
Về giải quyết trách nhiệm dân sự: Người bị hại, đại diện của bị hại là chị Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần với số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Bị cáo không có khả năng để bồi thường, để ra tòa án tiếp tục giải quyết.
Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 11/CT-VKSGC ngày 27 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Lê Hồng T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo 04 lần quan hệ tình dục với bị hại L. Một lần tại phòng ngủ nhà bị cáo và 03 lần tại nhà nghỉ "" phòng số 103, 104. Tại thời điểm quan hệ tình dục lần 01 thì cháu L được 14 tuổi 07 tháng 13 ngày chưa đủ 16 tuổi. Bị cáo T, sinh vào ngày 21 tháng 3 năm 2003, nên tính đến ngày 16/4/2024 ngày bị cáo quan hệ tình dục lần thứ nhất với bị hại L thì bị cáo đã trên 18 tuổi. Sau đó 04 ngày bị cáo tiếp tục quan hệ tình dục với bị hai L thêm 03 lần nữa.
Bị cáo thừa nhận hành vi quan hệ tình dục với L chưa đủ 16 tuổi với lỗi cố ý mặc dù cháu Nguyễn Thị Trúc L tự nguyện.
Người đại diện hợp pháp của bị hại L chị H chị biết được con chị quan hệ tình dục với bị cáo là do bạn của L nói lại, chị cũng nhận lỗi và trách nhiệm của chị H về việc quản lý con lỏng lẽo, nói cháu L không nghe lời, do hoàn cảnh gia đình của chị. Nay về trách nhiệm hình sự chị yêu cầu xử lý bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về yêu cầu bồi thường về sức khỏe, tổn thất tinh thần, danh dự nhân phẩm cho cháu Nguyễn Thị Trúc L số tiền 80.000.000 đồng. Nhưng qua tranh tụng phiên tòa nghe lời trình bày của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, và phân tích của Hội đồng xét xử chị đồng ý với mức bồi thường theo quy định của pháp luật là 10 tháng lương cơ sở, tương ứng là 23.400.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Trúc L:
Về Trách nhiệm hình sự: Theo Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công truy tố bị cáo Lê Hồng T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tại điểm a Khoản 2 Điều 145 Bộ Luật hình sự đúng người, đúng tội tôi không có ý kiến tranh luận.
Hành vi bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm của bị hại, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất tâm sinh lý bình thường, gây hoang mang cho bậc cha mẹ có con chưa thành niên, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đạo đức xã hội. Khi quan hệ tình dục lần thứ nhất bị hại chỉ mới 14 tuổi 07 tháng 13 ngày, độ tuổi này bị hại chưa nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi quan hệ tình dục chưa nhận thức rõ giới tính kiến thức sinh sản, tâm lý chưa ổn định, chưa phát triển toàn diện về thể chất, cũng như mức độ nhận thức về quan hệ tình dục. Nhưng bị cáo là người trên 18 tuổi bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc làm nào đúng, việc làm nào sai chưa được pháp luật cho phép bị cáo tự thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo biết rõ bị hại chưa đủ 16 tuổi mà bị cáo quan hệ tình dục 04 lần. Nên hành vi bị cáo đầy đủ cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Việc quan hệ tình dục sớm ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất, tâm lý sẽ đẫn đến hậu quả khôn lường về sau vì vậy yêu cầu bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần, danh dự nhân phẩm được pháp luật bảo vệ là hoàn toàn hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo trình bày hoàn cảnh, và đại diện của bị hại cũng thống nhất không yêu cầu bồi thường 80.000.000 đồng mà yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật là 10 tháng lương cơ sở bằng 23.400.000 đồng yêu cầu bồi thường cho bị hại khi án có hiệu lực pháp luật.
* Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Hồng T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Hồng T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015: Đề nghị ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường một phần là 5.000.000 đồng, được đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý nhận số tiền còn lại đề nghị chấp nhận theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Lê Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng.
* Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, trợ giúp viên pháp lý cảu bị hại không tranh luận nội dung gì thêm đối với đại diện Viện kiểm sát.
* Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, kết luận giám định: “Tình trạng màng trinh: Hình răng cưa, màng trinh dãn rộng, có vết rách cũ vị trí khoảng 02 giờ và 07 giờ tới chân màng trinh...", trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 16/4/2022 đến ngày 20/4/2024, bị cáo đã 04 lần có hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) với cháu Nguyễn Thị Trúc L sinh ngày 03/9/2009 Tại thời điểm bị cáo quan hệ tình dục với cháu L, cháu L chưa đủ 16 tuổi. Bị cáo trên 18 tuổi, mặc dù có sự tự nguyện của cháu L nhưng hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, gây hoang mang bức xúc của quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:
Bị cáo Lê Hồng T là người có 01 tiền sự tự hủy hoại tài sản của cá nhân bị xử lý vi phạm hành chính vào ngày 31/012024 bị cáo chưa nộp phạt; tiền án: không, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối hận vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2025, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa sau khi nghe hoàn cảnh của bị cáo, đại diện bị hại cũng thừa nhận có phần lỗi quản lý con gái lỏng lẻo nên cũng có phần trách nhiệm nên không yêu cầu bị cáo bồi thường 80.000.000 đồng mà chỉ yêu cầu theo quy định của pháp luật là 23.400.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật, tại phiên tòa bị cáo bồi thường cho bị hại được 5.000.000 đồng là số tiền của cá nhân bị cáo được đại diện bị hại đồng ý nhận, thấy bị cáo có thiện chí bù đắp cho hành vi của mình gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điểu 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi mà bị cáo quan hệ tình dục với bị hại đến 04 lần, ở lứa tuổi này, cơ thể bị hại chưa phát triển hoàn thiện, tâm lý cũng chưa phát triển ổn định, chưa có sự chuẩn bị về thể chất, tâm lý, kiến thức sinh sản và giới tính nên việc bị quan hệ tình dục sớm sẽ dẫn đến những hậu quả sức khỏe, tinh thần về sau, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, gây hoang mang dư luận xấu đến xã hội, ảnh hưởng tình hình chính trị tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Hồng T ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không có.
[8] Đối với chủ nhà nghỉ anh Nguyễn Trọng D có cho bị cáo thuê phòng nghỉ. Tuy nhiên chủ nhà nghỉ này đều không biết bị cáo thuê phòng để quan hệ tình dục trái pháp luật, nên không đặt ra xem xét xử lý.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử thấy thiệt hại về danh dự, nhân phẩm bị xâm hại của cháu Nguyễn Thị Trúc L do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên yêu cầu bồi thường của bị hại có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường 5.000.000 đồng/23.4000.000 đồng, còn lại số tiền 18.400.000 đồng bị cáo phải bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
[10] Quan điểm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trợ giúp viên pháp lý cho cháu Nguyễn Thị Trúc L phù hợp với phân tích của hội đồng xét xử nên được chấp nhận;
[11] Đề nghị viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[12] Về án phí:Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáp phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, trợ giúp viên pháp lý của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s, khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51 ; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 423 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2024;
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Buộc Bị cáo Lê Hồng T bồi thường tiền tổn thất do danh dự, nhân phẩm bị xâm hại cho cháu Nguyễn Thị Trúc L (do chị Nguyễn Thị Ngọc H là đại diện hợp pháp) số tiền 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng)
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 920.000 đồng(Chín trăm hai mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, trợ giúp viên pháp lý của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9- Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tiền Giang;
- - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
- - Viện kiểm sát nhân dân TXGC;
- - Viện kiểm sát nhân dân TTG;
- - Chi cục Thi hành án dân sự TXGC;
- - Thi hành án hình sự TXGC;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | |
Trần Thị An Thư |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Võ Thành Dương | Phạm Danh Hiếu | Trần Thị An Thư |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Lê Hồng T, (Tên gọi khác T1), sinh ngày 21/3/2003 tại huyện G, tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân: 082203005664, ngày cấp 05/6/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát Quản Lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp X, xã B, huyện G, Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 05/12; Con ông Lê Hồng C, sinh năm 1973, và bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/01/2024, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ra Quyết định số 173/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân. Bị cáo Lê Hồng T bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2024; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam tại khu vực thành phố G, có mặt. Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 03/9/2009, vắng mặt. Địa chỉ liên hệ: Sô 0852, tổ 19, ấp 1, xã An Hữu, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Chỗ ở: Số 156, Trần Công Tường, khu phố 2, phường 5, thành phố Gò Công, Tiền Giang.
