Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư

Ông Vũ Đức Lâm

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khắc T, sinh năm: 1989 tại xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Số CCCD: [...]; con ông: Nguyễn Khắc L; con bà: Nguyễn Thị S; có vợ Lường Thị T1 và có 01 con, sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2024, đến ngày 06/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trịnh Văn T2 - sinh năm: 1991 (có đơn xin vắng mặt)
  2. Trú tại: Thôn D X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Mai Văn B - sinh năm: 1991 (có đơn xin vắng mặt)
  4. Trú tại: Thôn D X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Nguyễn Văn T3 - sinh năm: 1992 (vắng mặt)
  6. Trú tại: Thôn C B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  7. Anh Đỗ Ngọc Đ, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
  8. Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Chị Lường Thị T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  2. Trú tại: Thôn B, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Trương Văn T4, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  4. Trú tại: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30 và 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã nhận được nguồn tin về tội phạm của công dân về việc Nguyễn Khắc T cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Khi làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Nguyễn Khắc T xin đầu thú và khai báo, từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024, T đã cho anh Đỗ Ngọc Đ, sinh năm: 1987, trú tại thôn H, xã H, huyện H, vay tổng số tiền 20.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 4.167 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương với mức lãi suất từ 150%/năm đến 180%/năm, gấp từ 7,5 lần đến 9 lần theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi nhằm thu là 65.866.667 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 7.966.666 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu thực tế là 56.500.000 đồng, số tiền lãi được thu đã thu là 6.366.667 đồng, số tiền đã thu lời bất chính là 50.133.333 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Khắc T khai nhận khi có khách hỏi vay tiền, T sẽ gặp gỡ tiếp xúc để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và công việc rồi mới quyết định cho vay. Người vay tiền phải mang các giấy tờ tùy thân để Tuyên kiểm tra thông tin, sau khi trao đổi mức lãi suất và được người vay đồng ý, T đưa cho người vay một tờ giấy vay tiền in sẵn để người vay tự viết thông tin cá nhân, số tiền và ký nhận, không giới hạn thời gian vay, giấy vay do T giữ và không thể hiện mức lãi suất, tiền vay được đưa theo hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản. Quá trình cho vay, hàng tháng T trực tiếp liên lạc nhắc đóng lãi và nhận tiền lãi từ người vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua các số tài khoản: N, ngân hàng V, và 02 số tài khoản 105606101090 và 107874235119, ngân hàng V, mang tên Lường Thị T1 (vợ của T).

Ngoài cho anh Đỗ Ngọc Đ vay lãi nặng như trên, từ năm 2021 đến tháng 12/2024, T đã cho 03 khách vay tiền thu lãi cao hàng tháng theo hình thức tín chấp, tổng số tiền gốc là 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu đồng) với mức lãi suất từ 144%/năm đến 180%/năm (gấp từ 7,2 đến 9 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự), số tiền lãi thu về là 117.500.000 đồng, tổng số tiền thu lời bất chính là 100.098.630 đồng, cụ thể:

  1. Anh Trịnh Văn T2 (sinh năm: 1991, trú tại thôn D X, xã H, huyện H) vay 03 lần, cụ thể:
  2. Lần 1, vay 15.000.000 đồng, thời gian vay, từ tháng 3/2022 đến ngày 21/7/2022, số tiền lãi đã trả là 8.600.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.600.000 đồng.

    Lần 2, vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ 02/8/2022 đến ngày 03/01/2023, số tiền lãi đã trả là 7.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.656.164 đồng.

    Lần 3, vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ 25/02/2023 đến tháng 9/2023, số tiền lãi đã trả là 19.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 17.166.667 đồng.

  3. Anh Mai Văn B (sinh năm: 1991, trú tại thôn D X, xã H, huyện H) vay 02 lần, cụ thể:
  4. Lần 1: Vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 11/2021 đến 10/10/2022, số tiền lãi đã trả là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 20.333.333 đồng.

    Lần 2: Vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ 17/12/2022 đến 18/12/2023, số tiền lãi đã trả là 14.400.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 12.394.521 đồng.

  5. Nguyễn Văn T3 (sinh năm: 1992, trú tại thôn C B, xã H, huyện H) vay 03 lần, cụ thể:
  6. Lần 1, vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 12/2021 đến tháng 5/2022, số tiền lãi đã trả là 7.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.666.667 đồng.

    Lần 2, vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 02/2022 đến tháng 7/2022, số tiền lãi đã trả là 12.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 10.333.333 đồng.

    Lần 3, vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ 03/8/2022 đến tháng 11/2023, số tiền lãi đã trả là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.947.945 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 10/CT - VKSHL ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Nguyễn Khắc T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 201 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T, mức án từ 07 (bảy) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 (sáu) ngày tạm giữ từ ngày 31/12/2024 đến ngày 06/01/2025 x 3 = 18 (mười tám) ngày. Thời gian cải tạo còn phải chấp hành 06 tháng 12 ngày đến 08 tháng 12 ngày. Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện H giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo phải nộp số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Ngọc Đ đã nhận lại số tiền 50.000.000 đồng do bị cáo hoàn trả nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu, tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Khắc T, số tiền gốc đã thu là 20.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu của người vay tương ứng mức lãi suất 20%/năm là 6.366.667 đồng. Tổng 26.366.667 đồng.

Đối với tiền T cho anh Trịnh Văn T2, anh Mai Văn B và anh Nguyễn Văn T3 vay nhằm thu lợi bất chính, tuy nhiên số tiền thu lợi dưới mức 30.000.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do thời điểm tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan Công an không xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với T.

Về xử lý vật chứng: Không xem xét xử lý.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý và không có quan điểm đối đáp, tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Cơ quan Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định, hành vi tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận: Từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024, Nguyễn Khắc T đã trực tiếp cho anh Đỗ Ngọc Đ vay tổng số tiền 20.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 4.167 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất từ 150%/ năm đến 180%/ năm, gấp từ 7,5 lần đến 09 lần theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi nhằm thu lợi là 65.866.667 đồng, tường ứng với số tiền lãi được thu theo quy định là 7.966.666 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu thực tế là 56.500.000 đồng, số tiền lãi được thu đã thu là 6.366.667 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính được là 50.133.333 đồng. Số tiền lãi mà người vay đã trả là 56.500.000 đồng, số tiền bị cáo T đã thu lợi bất chính là 50.133.333 đồng. Việc trả tiền lãi cho bị cáo thông qua số tài khoản số [...], tại ngân hàng V của T và 02 số tài khoản 105606101090 và 107874235119 cũng tại Ngân hàng V, mang tên Lường Thị T1 (vợ của T). Như vậy, số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính bằng hình thức cho vay lãi nặng đã thu từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024 là 56.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất vụ án thấy: Mặc dù việc phát sinh vay tiền lãi suất cao giữa bị cáo và người vay là tự nguyện nhưng bị pháp luật hình sự nghiêm cấm và bị coi là tội phạm. Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về hoạt động tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo biết rõ hành vi cho vay lãi nặng đối với người vay là bị nghiêm cấm, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm thu lợi bất chính. Vì vậy, cần xử lý bị cáo mức hình phạt phù hợp để đảm bảo công tác giáo dục, phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã trình diện đầu thú và tự nguyện hoàn lại số tiền thu lợi đã chiếm đoạt. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trên thì không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.

[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có mức hình phạt cao nhất tại khoản 1 Điều 201 của BLHS là Cải tạo không giam giữ. Quá trình điều tra bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2024 đến ngày 06/01/2025, thời gian tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt theo Điều 36 của BLHS.

[6]. Về Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính, nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước.

[7]. Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo là lao động tự do, không có việc làm ổn định nên không xác định được mức thu nhập bình quân hàng tháng, do đó không buộc bị cáo phải nộp số tiền bị khấu trừ thu nhập.

[8]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền gốc bị cáo cho anh Đỗ Ngọc Đ vay 20.000.000 đồng và tiền lãi đã thu 6.366.667 đồng, đây là tiền được xác định là công cụ, phương tiện thu lợi bất chính khi phạm tội nên cần truy thu, tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8.1]. Đối với số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 50.133.333 đồng của anh Đỗ Ngọc Đ mà anh Đ đã trả lãi vượt quá cho bị cáo. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo và người vay đã tự nguyện hoàn trả cho nhau số tiền 50.000.000 đồng, anh Đỗ Ngọc Đ không có đề nghị gì khác.

[9]. Ngoài số tiền phạm tội trên đối với anh Đỗ Ngọc Đ, quá trình điều tra xác định, bị cáo Nguyễn Khắc T còn cho anh Trịnh Văn T2 vay số tiền 45.000.000 đồng. Cụ thể lần 1, vay 15.000.000 đồng, thời gian vay, từ tháng 3/2022 đến ngày 21/7/2022, số tiền lãi đã trả là 8.600.000 đồng, số tiền thu lợi là 7.600.000 đồng; lần 2, vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ 02/8/2022 đến ngày 03/01/2023, số tiền lãi đã trả là 7.500.000 đồng, số tiền thu lợi là 6.656.164 đồng và lần 3, vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ 25/02/2023 đến tháng 9/2023, số tiền lãi đã trả là 19.500.000 đồng, số tiền thu lợi là 17.166.667 đồng.

[9.1]. Anh Mai Văn B vay số tiền 30.000.000 đồng. Cụ thể lần 1 vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 11/2021 đến 10/10/2022, số tiền lãi đã trả là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 20.333.333 đồng; lần 2 vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ 17/12/2022 đến 18/12/2023, số tiền lãi đã trả là 14.400.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 12.394.521 đồng;

[9.2]. Anh Nguyễn Văn T3 vay số tiền 40.000.000 đồng. Cụ thể lần 1 vay 10.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 12/2021 đến tháng 5/2022, số tiền lãi đã trả là 7.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.666.667 đồng; lần 2 vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ tháng 02/2022 đến tháng 7/2022, số tiền lãi đã trả là 12.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 10.333.333 đồng; lần 3 vay 20.000.000 đồng, thời gian vay từ 03/8/2022 đến tháng 11/2023, số tiền lãi đã trả là 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.947.945 đồng. Tuy nhiên, số tiền thu lợi mỗi lần cho vay của những người trên vượt quá lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS nhưng đều dưới mức 30.000.000 đồng, nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện H không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Khắc T với anh Trịnh Văn T2, anh Mai Văn B và anh Nguyễn Văn T3 là có căn cứ.

[10]. Xử lý vật chứng: Không xem xét xử lý.

[11]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/12/2024, đến ngày 06/01/2025 là 06 ngày x 3 = 18 (mười tám) ngày, còn lại thời gian phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án của Tòa án.

Giao bị cáo Nguyễn Khắc T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) đối với bị cáo để sung công quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền bị cáo Nguyễn Khắc T cho anh Đỗ Ngọc Đ vay và khoản tiền lãi đã thu của người vay tương ứng mức lãi suất 20%/năm là 6.366.667 đồng. Tổng cộng số tiền phải truy thu nộp ngân sách nhà nước là 26.366.667 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa liên quan về số tiền thu lợi bất chính đã tự nguyện hoàn trả nên không xem xét thêm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 61, 62 và điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger