Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIANG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 27/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Đình Liên, ông Vũ Đăng Đông.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Nga, ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án, Toà án nhân dân huyện Bình Giang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Phạm Quốc Tr, sinh ngày 24/12/2001, tại huyện M, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T và bà Phạm Thị L; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 19/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

2. Nguyễn Trung Q, sinh ngày 16/8/1996, tại huyện B, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Kh và bà Trần Thị Ch, gia đình có 02 chị em; bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/6/2021, UBND xã L Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 3 tháng. Ngày 01/9/2021, Q chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 19/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác: Anh Đoàn Ngọc L, anh Hoàng Xuân Ch, anh Nguyễn Xuân Kh là những người làm chứng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Quốc Tr và Đoàn Ngọc L, sinh năm 2002, trú tại thôn Q, xã A, huyện B, tỉnh H là bạn quen biết xã hội, TR và L đều là người sử dụng ma túy đá. TR nói với L về việc TR có ma tuý đã bán, nếu L có nhu cầu mua TR bán cho. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/12/2024, L đến Q Internet ở thôn M, xã Th, huyện B chơi game và gặp Nguyễn Trung Q cũng chơi điện tử ở đây. Trong lúc chơi điện tử, L đăng nhập ứng dụng Messenger tên đăng nhập “Đoàn L (Cá Con)” nhắn tin đến tài khoản của TR tên đăng nhập “Tuấn TR” (TR sử dụng điện thoại nhãn hiệu Xiaomi lắp sim số 0358.758.164) hỏi mua 700.000 đồng ma tuý đá và nhờ Q đến gặp TR để lấy ma túy, TR đồng ý. L đưa cho Q 700.000 đồng và đưa tên tài khoản facebook (Messenger) của TR để Q liên hệ đến gặp TR để mua ma tuý, Q đồng ý. Sau đó, Q sử dụng ứng dụng Messenger tên đăng nhập “Nguyễn Q (Lẫn)” đăng nhập trên điện thoại nhãn hiệu Realme lắp sim số 0975.292.861 của mình gọi điện và nhắn tin đến tài khoản của TR để liên hệ mua ma tuý cho L. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô BKS 34B1 - 946.39 (mượn của bố đẻ là ông Nguyễn Văn Kh) đi từ Q internet theo vị trí TR gửi đến khu vực cổng UBND xã Ng, huyện T, tỉnh H thì gặp TR. Tại đây, TR bảo Q chuyển khoản tiền vào tài khoản, Q đồng ý sử dụng ứng dụng internet banking chuyển khoản từ số tài khoản 1035402703 - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đến tài khoản ví Momo của TR đăng ký bằng số điện thoại 0345.906.xxx. Sau khi nhận tiền, TR bảo Q đưa xe mô tô để TR đi mua ma tuý, Q đồng ý đưa xe mô tô BKS 34B1 - 946.39 cho TR rồi đứng đợi. TR điều khiển xe mô tô đi đến khu vực huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên gặp và mua của người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) 01 túi ma tuý đá với số tiền 500.000 đồng, sau đó quay lại vị trí Q đứng đợi trả xe mô tô và đưa túi ma tuý cho Q đi về. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q đi về đến cổng làng thôn Dinh Trại Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang gặp và đưa túi ma túy cho L rồi đi về nhà, L cất giấu túi ma tuý trong người để sử dụng. Chiều ngày 13/12/2024, L cầm túi ma tuý đến khu vực Trại lợn thuộc thôn Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma tuý, L vứt bộ dụng cụ tại vị trí sử dụng, túi nilon còn bám dính ma tuý L cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc để sử dụng tiếp rồi đi bộ trên đường trục xã Bình Xuyên đi xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện. Hồi 14 giờ cùng ngày, L đang đi bộ tại đường trục xã thuộc thôn Dinh Trại Như, xã Bình Xuyên thì bị Tổ công tác 151 Công an huyện Bình Giang phối hợp cùng Công an xã Bình Xuyên phát hiện, kiểm tra. Thu giữ tại túi quần bên phải của L 1 vỏ túi nilon KT (1,5 x 1,5)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, L khai là túi nilon đựng ma tuý đã mua của TR. Sau khi biết thông tin L bị bắt, TR và Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang đầu thú, TR giao nộp 01 điện thoại Xiaomi lắp sim số 0358.758.164, Q giao nộp 01 điện thoại Realme lắp sim số 0975.292.861 và xe mô tô BKS 34B1-946.39.

Kết luận giám định số 08/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong vỏ túi nilon thu giữ của Đoàn Ngọc L là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Hoàn lại đối tượng giám định 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì đựng mẫu vật.

Methamphetamine-STT 247, Mục IIC, Danh mục II Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Phạm Quốc Tr, Nguyễn Trung Q ra trước Tòa án nhân dân huyện Bình Giang để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang là đúng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Quốc Tr, Nguyễn Trung Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc Tr từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17/12/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung Q từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17/12/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Phạm Quốc Tr 5.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 08/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau khi giám định.

Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, kiểu máy Redmi8, màu đen, số Imeil: 866367042000238, số Imeil2: 866367042000246.

Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Realme-C35, màu xanh ngọc, số Imeil: 864945060162931, số imeil2: 864945060162923.

Truy thu số tiền 700.000 đồng của bị cáo Phạm Quốc Tr nộp ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Bình Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2024, tại khu vực cổng Uỷ ban nhân dân xã Ng, huyện T, tỉnh H, Nguyễn Trung Q cho Phạm Quốc Tr mượn xe mô tô BKS 34B1- 946.39 để TR đi mua 01 túi ma tuý loại Methamphetamine về bán cho Đoàn Ngọc L với số tiền 700.000 đồng (Q là người đi nhận ma tuý cho L). Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q cầm túi ma tuý mang về cổng làng thôn D, xã A, huyện B, tỉnh H giao lại cho L. Khoảng 14 giờ ngày 13/12/2024, L mang túi ma tuý đến khu trại lợn thuộc thôn Như, xã Bình Xuyên sử dụng, sau đó bị Tổ công tác 151 Công an huyện Bình Giang phối hợp cùng Công an xã Bình Xuyên phát hiện, kiểm tra, thu giữ vật chứng.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, an toàn xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích bán kiếm lời đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác để thu lời bất chính. Số ma túy các bị cáo bán kiếm lời là loại ma túy Methamphetamine. Như vậy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự cấu kết chặt chẽ do đó xác định đây chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Phạm Quốc Tr giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Nguyễn Trung Q đồng phạm với vai trò giúp sức, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo theo quy định tại Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự, để làm căn cứ quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Về nhân thân, bị cáo TR có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Q có nhân thân xấu, năm 2021 bị UBND xã L Xuyên, huyện Bình Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, ngày 01/9/2021 bị cáo đã chấp hành xong nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo TR, Q đều tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bị cáo Phạm Quốc Tr phạm tội mục đích mua bán ma túy để kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q là người thực hành, giúp sức, không được hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 08/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, kiểu máy Redmi8, màu đen, số Imeil: 866367042000238, số Imeil2: 866367042000246 của bị cáo Phạm Quốc Tr. Bị cáo TR sử dụng chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi và sim số 0358758164 để đăng ký, đăng nhập tài khoản Messenger “Tuấn TR” để liên lạc, trao đổi mua ma túy với Đoàn Ngọc L và Nguyễn Trung Q, liên quan đến việc mua bán ma túy. Vì vậy, cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại; 01 thẻ sim (vật lý) số 0358758164 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Realme-C35, màu xanh ngọc, số Imeil: 864945060162931, số imeil2: 864945060162923 của bị cáo Nguyễn Trung Q. Bị cáo Q sử dụng chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Realme để đăng ký, đăng nhập tài khoản Messenger “Nguyễn Q (Lẫn)” để gọi và nhắn tin đến tài khoản của TR, liên quan đến việc mua bán ma túy. Vì vậy, cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại; đối với sim (vật lý) số 0975.292.861 không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số thuê bao số 0358758164 và số 0975.292.861 cần yêu cầu doanh nghiệp viễn thông Quân đội Viettel là đơn vị đang cung cấp dịch vụ gắn với số thuê bao thu hồi số thuê bao này.

Đối với số tiền 700.000 đồng, đây là số tiền do phạm tội mà có do vậy truy thu số tiền này của bị cáo TR nộp ngân sách Nhà nước.

[8]. Đối với xe mô tô BKS 34B1-946.39 xác định thuộc chủ sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1971; trú tại: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh H (là bố đẻ của bị cáo Q). Ông Khai không biết Q sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, ngày 17/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang đã trả lại xe mô tô cho ông Nguyễn Xuân Kh quản lý, sử dụng là có căn cứ.

[9]. Đối với số ma túy bị cáo TR khai mua của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, quá trình điều tra không xác định được là ai, ở đâu; Ông Nguyễn Xuân Kh cho Q mượn xe mô tô nhưng không biết Q đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[10]. Đối với hành sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Ngọc L, ngày 17/02/2025 Công an huyện Bình Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

[11] Về án phí: Các bị cáo Phạm Quốc Tr, Nguyễn Trung Q bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 53 Luật Viễn thông, Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Quốc Tr, Nguyễn Trung Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc Tr 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung Q 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Phạm Quốc Tr 5.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 08/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, kiểu máy Redmi8, màu đen, số Imeil: 866367042000238, số Imeil2: 866367042000246.

Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Realme-C35, màu xanh ngọc, số Imeil: 864945060162931, số imeil2: 864945060162923.

Tịch thu, tiêu huỷ 02 thẻ sim (vật lý) số 0358758164, 0975292861.

Yêu cầu tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel thu hồi số thuê bao 0358758164, 0975292861, đồng thời tịch thu số tiền còn lại trong thuê bao trên nộp Ngân sách nhà nước.

Truy thu số tiền 700.000 đồng của bị cáo Phạm Quốc Tr nộp Ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang và có đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).

4. Về án phí: Các bị cáo Phạm Quốc Tr, Nguyễn Trung Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Bình Giang;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hải Dương;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Hải Dương.
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

Đào Quang Khuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quốc Trịnh, Nguyễn Trung Quán phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger