Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

V/v Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do

người chết để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Lương Anh

Ông Mai Phú

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nghiêm Thị X, sinh năm 1963; địa chỉ: 1 đường C, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Đại diện theo ủy quyền: Chị Lưu Thanh S, sinh năm: 1999; địa chỉ: A đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Giấy ủy quyền được Văn phòng C chứng thực ngày 28/4/2022).

  2. Bị đơn: Ông Trần Nam L, sinh năm 1965; anh Trần Bảo N, sinh năm 1994; địa chỉ: Số A P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Nam L: Ông Vũ Thành N1, sinh năm 1971; địa chỉ: Số E H, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Giấy ủy quyền được Văn phòng C chứng thực ngày 22/10/2024).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Nam L: Luật sư Nguyễn Minh D – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.

  3. Người làm chứng: Bà Phạm Thị Minh T, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường 3/4, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà X, chị S, ông L, ông N1, Luật sư D có mặt;

anh N, bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/4/2022; đơn sửa đổi ngày 01/7/2024; đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 17/7/2024; đơn bổ sung ngày 10/9/2024 và lời trình bày của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Bùi Thị H có tham gia 10 dây huê của bà Nghiêm Thị X và có vay tiền của bà X để kinh doanh, đầu tư bất động sản và chi tiêu trong gia đình. Việc chơi huê có sổ sách và có giấy viết tay vay mượn được bà H ký nhận, cụ thể số tiền nợ huê là 1.573.280.000 đồng và số tiền vay là 1.820.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 13/01/2021, bà H có mượn của bà X số tiền 170.000.000 đồng để mua xe ô tô thỏa thuận bằng miệng, có bà Phạm Thị Minh T làm chứng, không có giấy tờ giao nhận tiền. Tổng cộng số tiền vay là 1.990.000.000 đồng.

Bà H đã chết theo Trích lục khai tử số 16/TLKT-BS đề ngày 24/01/2023 của Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ. Sau khi bà H chết thì bà X đã nhiều lần liên hệ với chồng bà H là ông Trần Nam L, và con là anh Trần Bảo N để yêu cầu trả số tiền mà bà H đã chơi huê và vay nêu trên nhưng ông L, anh N không đồng ý.

Ngày 16/7/2024 nguyên đơn bà X có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền huê. Ngày 10/9/2024 bà X bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị tính lãi đối với số tiền 1.990.000.000 đồng mà bà H đã vay.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 26/3/2025, chị S là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Bùi Thị H là ông Trần Nam L (chồng) và anh Trần Bảo N (con) phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà X số tiền 1.990.000.000 đồng và lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 06/04/2022 đến ngày 26/3/2025, cụ thể: 1.990.000.000 đồng x (10%/12 tháng) x 35 tháng 20 ngày = 591.321.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 2.581.321.000 đồng.

Tài liệu chứng cứ chứng minh: 08 Giấy vay tiền; lời khai của người làm chứng bà Phạm Thị Minh T.

Về chi phí tố tụng: Bà X đã ứng chi số tiền 4.806.900 đồng chi phí giám định chữ ký, chữ viết và phí khai thác hồ sơ tại Văn phòng Đ, đề nghị bị đơn thanh toán lại số tiền này cho bà X.

Trong vụ án này, bà Phạm Thị Huyền T1 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan nên đề nghị Tòa án không đưa bà Phạm Thị Huyền T1 vào tham gia tố tụng.

Tại đơn xin vắng mặt buổi hòa giải, công khai chứng cứ ghi ngày 06/3/2025 của ông Vũ Thành N1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Nam L trình bày: Ông Trần Nam L không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Luật sư Nguyễn Minh D bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Nam L thống nhất lời trình bày của ông Vũ Thành N1, không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Trong vụ án này, bà Phạm Thị Huyền T1 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan nên đề nghị Tòa án không đưa bà Phạm Thị Huyền T1 vào tham gia tố tụng.

Tại đơn xin vắng mặt ghi ngày 28/10/2024 của anh Trần Bảo N trình bày: Anh Trần Bảo N đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay,

  • Nguyên đơn bà Nghiêm Thị X và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Lưu Thanh S trình bày: Thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N phải thực hiện nghĩa vụ bà Bùi Thị H để lại là trả số tiền 1.500.000.000 đồng cho bà X.

    Về chi phí tố tụng: Bà Nghiêm Thị X tự nguyện chịu số tiền 4.806.900 đồng chi phí giám định chữ ký, chữ viết và phí khai thác hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai.

  • Bị đơn ông Trần Nam L và đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Vũ Thành N1 trình bày: Đồng ý dùng phần di sản của bà Bùi Thị H để trả số tiền nợ 1.500.000.000 đồng cho bà Nghiêm Thị X.
  • Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Nam L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Trần Nam L và ông Vũ Thành N1 về việc đồng ý dùng phần di sản của bà Bùi Thị H để trả số tiền nợ 1.500.000.000 đồng cho bà Nghiêm Thị X.
  • Bị đơn anh Trần Bảo N có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng bà Phạm Thị Minh T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nghiêm Thị X, buộc bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N phải thực hiện nghĩa vụ do bà Bùi Thị H để lại là trả số tiền 1.500.000.000 đồng cho bà Nghiêm Thị X trong phạm vi di sản bà H để lại. Nguyên đơn bà Nghiêm Thị X không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên nên không xem xét.
  • Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền huê 1.573.280.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nghiêm Thị X khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N thực hiện nghĩa vụ trả nợ do người chết bà Bùi Thị H để lại nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Trần Nam L và anh Trần Bảo N có hộ khẩu thường trú tại Phường A, thành phố Đ nên Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/3/2025. Tại phiên họp, vắng mặt bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N; đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Vũ Thành N1. Nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Riêng phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung, sau đó đã thông báo kết quả cho các đương sự trên được biết.

Quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ thì thấy rằng bà Phạm Thị Huyền T1 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án này nên Hội đồng xét xử quyết định không đưa bà Phạm Thị Huyền T1 vào tham gia tố tụng.

Bị đơn anh Trần Bảo N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về điều kiện khởi kiện:

Căn cứ giấy chứng tử số 61 đăng ký ngày 20/3/2023 tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ (BL66) thể hiện bà Bùi Thị H đã chết vào ngày 06/9/2021. Qua thu thập tài liệu và xác minh, bà H chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của bà H gồm: Cha là cụ ông Bùi Sinh P (chết năm 2006); mẹ là cụ bà Nguyễn Thị T2 (chết năm 2016) (BL104); chồng là ông Trần Nam L và con là anh Trần Bảo N.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Nam L thừa nhận hiện nay bà Bùi Thị H có để lại di sản nhưng chưa chia thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 129,5m², thuộc thửa 259, tờ bản đồ số 03, tại số A P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 485078 được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 10/5/2007 cho ông Trần Nam L và bà Bùi Thị H. Do đó, bà Nghiêm Thị X khởi kiện và yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Bùi Thị H là ông Trần Nam L (chồng bà H); anh Trần Bảo N (con bà H) có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do bà H để lại, trả cho bà X số tiền huê 1.573.280.000 đồng, số tiền vay 1.990.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Đối với số tiền huê 1.573.280.000 đồng: Ngày 16/7/2024 nguyên đơn bà X có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền này. Xét thấy, việc rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần tiền huê là phù hợp.

[3.2] Đối với số tiền 1.820.000.000 đồng bà Nghiêm Thị X cho bà Bùi Thị H vay theo các giấy vay mượn tiền được ghi vào các ngày 12/10/2019; 12/11/2019; 06/4/2021; 02/7/2021; 06/8/2021; 01/9/2021; 10/9/2021 và 22/2/2021:

Bà H có ghi và ký tên vào các giấy này, trong đó không thỏa thuận ngày trả và không ghi lãi suất. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu có chữ ký, chữ viết của bà Bùi Thị H tại hồ sơ nhà đất để thực hiện việc giám định đối với các giấy vay mượn tiền mà bà X cung cấp. Theo Kết luận giám định số 157/KL-KTHS(TA) ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định chữ ký, chữ viết ghi họ tên Bùi Thị H trên các tài liệu giám định so với chữ ký, chữ viết ghi họ tên Bùi Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra (BL169). Như vậy, có căn cứ để xác định bà Bùi Thị H đã vay của bà Nghiêm Thị X số tiền nói trên và việc nguyên đơn đề nghị ông L, anh N có nghĩa vụ dùng di sản của bà H để trả nợ là hoàn toàn có cơ sở.

[3.3] Đối với số tiền 170.000.000 đồng: Bà X khởi kiện cho rằng khi cho bà H vay thì có mặt của người làm chứng bà Phạm Thị Minh T. Tuy nhiên, căn cứ khoản 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Xét thấy, ngoài lời khai của bà Minh T thì không có văn bản hoặc tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh việc bà H có mượn số tiền này của bà X. Bà H đã chết, đồng thời, ông L và anh N không thừa nhận nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà X.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nghiêm Thị X thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N có nghĩa vụ dùng phần di sản của bà Bùi Thị H để trả cho nguyên đơn số tiền 1.500.000.000 đồng. Bị đơn ông Trần Nam L đồng ý với yêu cầu này của nguyên đơn. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên cần chấp nhận và buộc bị đơn ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N có nghĩa vụ dùng phần di sản của bà Bùi Thị H trả cho bà Nghiêm Thị X số tiền 1.500.000.000 đồng là phù hợp.

[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ứng chỉ số tiền 4.806.900 đồng chi phí giám định chữ ký, chữ viết và phí khai thác hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí này và đã quyết toán xong nên không đề cập.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Nam L và anh Trần Bảo N là người phải thực hiện nghĩa vụ nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 159, Điều 160; Điều 161; Điều 217; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 615 và 623 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nghiêm Thị X về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” đối với ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N.

    Buộc ông Trần Nam L và anh Trần Bảo N phải có nghĩa vụ dùng phần di sản của bà Bùi Thị H để trả cho bà Nghiêm Thị X số tiền nợ 1.500.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nghiêm Thị X về việc buộc ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N có nghĩa vụ dùng phần di sản của bà Bùi Thị H trả số tiền huê 1.573.280.000 đồng.
  3. Về án phí: Ông Trần Nam L, anh Trần Bảo N có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 57.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho bà Nghiêm Thị X số tiền 51.990.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002352 ngày 27/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Bảo N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC
  • - Lưu hồ sơ vụ án; bộ phận lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuyen - Long "Yeu cau thuc hien nghia vu do nguoi chet de lai"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger