Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 3 - 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung khi ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Lương Thị Thu An

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Sa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 167/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXX-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Thông báo dời phiên số 08/2025/TB-DPT ngày 08/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Anh Lê Đình T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc T và anh Lê Đình T1 chung sống với nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 67/2016 ngày 04/11/2016. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn bất đồng về quan điểm, thường cãi vã, vợ chồng không thể cảm thông và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống và ly thân từ năm 2021. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Lê Đình T1.

Về con chung: Chị Võ Thị Ngọc T và anh Lê Đình T1 có 02 con chung tên Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021. Khi ly hôn chị T yêu cầu giao con chung Hà T2 và Hà T3 cho chị T trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 số tiền 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị T không có yêu cầu nào khác.

Tại Văn bản nêu ý kiến bị đơn anh Lê Đình T1 trình bày:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh T1, tiến hành triệu tập anh T1 đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 đều vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh T1.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ, tài liệu gì thêm.

Bị đơn anh Lê Đình T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và không cung cấp chứng cứ tài liệu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định có trong Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật tố dụng dân sự và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của các đương sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị T đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T1 mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đã không thực hiện các yêu cầu tham gia giải quyết vụ án của Tòa án, không gửi văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hòa giải. Tất cả những điều này cho thấy bị đơn không chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 là có căn cứ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giải quyết cho chị T được ly hôn với anh T1; Giao con chung Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 cho chị T trực tiếp nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn; anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; buộc chị T nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn Chị Võ Thị Ngọc T, Tòa án xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền của Tòa án giải quyết: Anh Lê Đình T1 có địa chỉ cư trú tại tổ E, khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 yêu cầu khởi kiện của chị T đối với anh T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[1.3]. Do chị T khởi kiện nên Tòa án xác định chị T là nguyên đơn, anh T1 là người bị kiện nên Tòa án xác định anh T1 là bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về phần anh T1, mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 không chấp hành, không có ý kiến phản hồi đối với các thông báo của Tòa án.

Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt bị đơn anh Lê Đình T1.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Căn cứ vào lời khai của chị T và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy chị T và anh T1 kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 67/2016 ngày 04/11/2016. Việc kết hôn là do chị T và anh T1 hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, đe dọa, lừa dối. Do đó, căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

[2.2]. Chị T cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh T1 đến Tòa án làm việc, tham gia phiên hòa giải để thuyết phục, động viên, hàn gắn tình cảm cho chị T và anh T1 đoàn tụ nhưng anh T1 đều vắng mặt, không có thiện chí hòa giải vợ chồng, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Tất cả các điều này cho thấy giữa chị T và anh T1 có mâu thuẫn vợ chồng. Do mâu thuẫn đến thời điểm này là trầm trọng, không thể hàn gắn, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, đời sống chung không không thể tiếp tục và thực tế các đương sự đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1 được Tòa án chấp nhận.

[2.3]. Về con chung: Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của chị T thì vợ chồng chị T và anh T1 có 02 con chung tên Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như giấy khai sinh của các con, biên bản lấy lời khai của con chung và biên bản xác minh của Tòa án, xét thấy lời trình bày của chị T về con chung là có căn cứ. Chị T và anh T1 đã ly thân, hiện chị T đang nuôi con chung.

Xét yêu cầu được giao con chung 02 con chung tên Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 của chị T. Tòa án nhận thấy, cháu T2 và T3 hiện đang sống cùng chị T, chị T đã nêu ra yêu cầu nhưng anh T1 không nêu ra ý kiến hay phản hồi về nguyện vọng của mình hay yêu cầu của chị T. Anh T1 mặc dù đã được Tòa án thông báo, mời họp công khai chứng cứ, hòa giải để vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con nhưng không tham gia, không gửi ý kiến phản hồi cho Tòa án. Vì vậy yêu cầu nuôi con chung của chị T được Tòa án xem xét chấp nhận.

[2.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 số tiền 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh T1 đến Tòa án làm việc, có ý kiến đối với yêu cầu của chị T, tuy nhiên anh T1 không có ý kiến. Xét thấy anh T1 không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đến khi con chung thành niên là phù hợp, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con của chị T được Toà án chấp nhận.

[2.5]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

[2.6]. Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Do chị T là nguyên đơn trong vụ án nên chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 266, 267, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, giải quyết cho chị Võ Thị Ngọc T được ly hôn với anh Lê Đình T1.
  2. Giao con chung tên Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 cho chị Võ Thị Ngọc T trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
  3. Về cấp dưỡng: Anh Lê Đình T1 cấp dưỡng nuôi con chung Lê Ngọc Hà T2, sinh ngày 03/9/2017 và Lê Ngọc Hà T3, sinh ngày 23/11/2021 số tiền 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  4. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
  6. Về án phí: Chị Võ Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004559 ngày 01/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Chị T phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger